Hàng Long Phục Hổ tiếp theo.
Câu chuyện về 2 vị La Hán này rất thú vị. Có lẽ các cụ sẽ rất bất ngờ khi biết ban đầu chỉ có 16 chứ không phải là 18 La Hán.
Trong “Pháp Trụ Ký” của Tôn giả Khánh Hữu nước Sư Tử (Sirilanka), thế kỷ thứ hai CN, có ghi rõ tên họ và nơi ở của 16 vị La-hán. Sau khi Pháp sư Huyền Trang (chính là Tam Tạng thực) dịch bộ sách này ra thì 16 vị La-hán càng được các tín đồ phật tử Trung Quốc sùng kính.
1. Tân-độ-la-bạt-la-nọa-xà (còn gọi là Tân-đầu-lô), vị tôn giả này trú tại Tây-cù-đà-ni-châu.
2. Ca-nặc-ca-phạt-sa, vị tôn giả này trú tại nước Ca-thấp-di-la.
3. Ca-nặc-ca-ly-nọa-xà, vị tôn giả này trú tại Đông-thắng-thần-châu.
4. Tô-tần-đà, vị tôn giả này trú tại Bắc-cu-lô-châu.
5. Nặc-cự-la, vị tôn giả này trú tại Nam-thiệm-bộ-châu.
6. Bạt-đà-la, vị tôn giả này trú tại Đam-một-la-châu.
7. Ca-lý-ca, vị tôn giả này trú tại Tăng-già-trà-châu.
8. Phạt-xà-la-phất-đa-la, vị tôn giả này trú tại Bát-thích-noa-châu.
9. Thú-bác-ca, vị tôn giả này trú tại núi Hương Túy
10. Bán-thác-ca, vị tôn giả này trú ở cõi trời Đao Lợi.
11. La-hỗ-la, vị tôn giả này trú tại Tất-lợi-dương-cù-châu.
12. Na-già-tê-na, vị tôn giả này trú tại núi Bán-độ-ba.
13. Nhân-yết-đà, vị tôn giả này trú tại núi Quảng Hiếp.
14. Phạt-na-bà-tư, vị tôn giả này trú tại núi Khả Trụ.
15. A-thị-đa, vị tôn giả này trú tại núi Thứu Phong.
16. Chú-trà-bán-thác-ca, vị tôn giả này trú tại núi Trì Trục.
Nhưng trong kinh điển chỉ có 16 vị La-hán, hoàn toàn không có “Thập bát La-hán”. Vậy 2 vị kia là ai? tại sao ko có trong danh sách.
Thưa các cụ, người Trung Quốc rất coi trọng các con số ước lệ. VD: 81 kiếp nạn, 36 phép theo sao Thiên Cương, 72 phép theo Địa Sát, 10 vạn 8 nghìn dặm (chặng đường sang tây Thiên)... tất cả đều là bội số của 9. Bởi vì 9 là số cuối cùng nên bội số của 9 thể hiện to nhất, nhiều nhất và đầy đủ nhất.
16 = 2x8 là con số chưa hoàn chỉnh, bởi vậy, người TQ chả ngần ngại thêm vào 2 vị cho đủ số 9x2=18.
Phật giáo vì muốn lưu truyền và phát triển cũng đành phải chấp nhận sự cải biên này vì suy cho cùng nó cũng không ảnh hưởng lắm. (Trái lại, với Lão Tử hóa Hồ Kinh, Phật giáo chống đối quyết liệt vì nó ảnh hưởng đến vị tổ sư của họ là Đức Như Lai, em sẽ bàn về vấn đề này sau).
Cơ mà vì là thêm vào, chẳng có trong kinh sách nên mỗi ông, mỗi thời đại thêm vào 1 kiểu. Thời Ngũ Đại có họa sĩ Trương Huyền vẽ tượng 18 vị La-hán. Đây là tượng 18 vị La-hán sớm nhất mà người ta được biết. Đến thời Tống, đại văn hào Tô Đông Pha phát hiện những bức tượng đó ở đất Đam Nhĩ nên cao hứng làm 18 bài Tán ca ngợi, nhưng Tô Đông Pha không ghi rõ tên từng vị. Do đó, chúng ta chẳng biết hai vị La-hán 17 và 18 trong bức họa là ai.
Sau đó không lâu, Hòa thượng Quán Hưu cũng vẽ tượng 18 vị La-hán với vị 17 là Nan-đề-mật-đa-la, người nói Pháp Trụ Ký giới thiệu danh tánh, trú xứ, sự tích 16 vị La-hán, vị 18 là Pháp sư Huyền Trang, vị Cao tăng đời Đường sang Ấn Độ thỉnh kinh và là người phiên dịch “Pháp Trụ Ký”. Tô Đông Pha lúc đi ngang qua chùa Bảo Lâm ở Thanh Hiệp nhìn thấy bức họa này thì ông viết tiếp 18 bài Tán nữa. Điểm khác nhau giữa lần này và lần trước là ở mỗi bài Tô Đông Pha đều chú thích rõ ràng tên từng vị. Ông cho rằng vị 17 là tôn giả Nan-đề-mật-đa-la, vị 18 là tôn giả Tân-đầu-lô (chứ không phải PS Huyền Trang). Nhưng Tân-đầu-lô là gọi tắt của Tân-độ-la-bạt-la-nọa-xà, vị La-hán đầu tiên trong 16 vị mà Tô Đông Pha không nhận ra điều này nên đã lập lại hai lần tên của một tôn giả.
Ngài Chí Bàn không tán thành việc đưa tôn giả Nan-đề-mật-đa-la vào hàng 18 vị La-hán, ngài đề xuất nên đưa hai vị tôn giả Ca-diếp, Quân-đồ-bát-thán vào hàng 18 vị La-hán.
Cuối cùng, 2 vị thứ 17-18 được mọi người thống nhất lựa chọn Đạt-ma-đa-la (Phục hổ, người ở núi Hạ Lan tỉnh Cam Túc ) và Nan-đề-mật-đa-la (Hàng Long).
(Một số tài liệu cho rằng HL PH do vua Cao Tông nhà Thanh thêm vào, em không đồng ý ở điểm này bởi lẽ Ngô Thừa Ân đời nhà Minh đã đề cập đến HL PH trong TDK rồi thì HL PH phải xuất hiện trước thời Ngô Thừa Ân).
Như vậy, các cụ có thể thấy Phật giáo truyền qua TQ đã bị thay đổi rất nhiều (HL, PH là một ví dụ), không còn giữ nguyên bản sắc cũng như bị phân tán thành nhiều pháp môn khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn với nhau.
Ngô Thừa Ân đã rất khéo léo khi lồng ghép tình tiết Phật tổ tiết lộ lại lịch Độc Giác Tỷ (trâu của Thái Thượng Lão Quân, tổ sư Đạo Lão) cho riêng 2 vị Hàng Long, Phục Hổ chứ không thông báo cho 16 vị La Hán khác. Ông đã ám chỉ sự thêm thắt danh hiệu HL PH vốn là những quan điểm riêng của Đạo giáo Trung Quốc(Thái Thượng Lão Quân) vào Đạo Phật mà cụ thể là 2 vị tôn giả Đạt-ma-đa-la và Nan-đề-mật-đa-la.
P/S: các cụ nếu tìm hiểu Phật Giáo Nguyên Thủy sẽ thấy rất khoa học, hoàn toàn không có yếu tố mê tín dị đoan mà phần lớn là do người TQ thêm vào. Chính Pháp sư Huyền Trang cũng vì Tam sao thất bổn mà phải sang Ấn Độ tu học và đem kinh sách về dịch và truyền bá cho đời sau.