• [Thông báo] Diễn đàn tạm thời chuyển tên miền từ OTOFUN.NET sang tên miền OTOFUN.NET.VN.

[Funland] Dịch và tặng sách cổ: Cuộc nổi dậy của phong trào Tây Sơn dưới góc nhìn của các giáo sĩ Tây Ban Nha.

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Thớt " Nhà Tây Sơn-đỉnh cao và sụp đổ của em đã biên từ lâu, hồi ấy, do biên vội, nên các tài liệu em chỉ dịch lấy tư liệu chứ không dịch hoàn chỉnh, tức là chỉ dịch phần ý chính.
Nay có thời gian, em đem các bản dịch cũ ra chỉnh sửa, dịch nốt phần còn thiếu,hầu các cụ đam-mê Lịch sử.
Tại sao em dịch cuốn này:
1. Đây là cuốn sách gần như duy nhất mà các tác giả là các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô Tây Ban Nha có mặt trực tiếp lúc cuộc khởi nghĩa nổ ra, nghĩa là họ đã gặp tất cả 18 thủ lĩnh Tây Sơn, cả Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, họ gặp cả chúa NGuyễn, Hoàng Ngũ Phúc....
2. Khác với các giáo sĩ khác, vốn bênh vực Nguyễn Ánh và chịu ảnh hưởng của Bá Đa Lộc, các giáo sĩ Tây Ban Nha có cái nhìn tương đối khách quan hơn, tất nhiên họ vẫn ngả ít nhiều về Nguyễn Ánh, nhưng ko vì thế mà những âm mưu thâm-độc của Nguyễn Ánh và Bá Đa Lộc bị họ lờ đi trong ghi chép.
3. Tây Sơn cũng khá tàn nhẫn, họ quá sắt đá và vì nhiều thành phần tham gia khởi nghĩa nên khá lộn xộn và không nhất quán hành động,tuy nhiên, có khá nhiều quan Tây Sơn hiểu biết và nhân đạo.
4. CUộc sống của người dân là khổ nhất vì chiến tranh.
--------------------------------
Do trình độ tiếng Tây Ban Nha của em chưa ổn lắm, nên xin phép dịch từ bản tiếng Pháp do chính các giáo sĩ dịch, tất nhiên vẫn phải tham khảo bản tiếng Tây Ban Nha.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ảnh bìa sách:
Screenshot (337).png
 

Ông Giáo.

Xe tăng
Biển số
OF-494313
Ngày cấp bằng
3/3/17
Số km
1,354
Động cơ
207,062 Mã lực
Hay quá cụ
Em đặt chỗ xem ah ! :)
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Screenshot (338).png
 

Fiat2007

Xe tăng
Biển số
OF-197253
Ngày cấp bằng
4/6/13
Số km
1,146
Động cơ
816,379 Mã lực
Cháu ngồi đợi xem lịch sử, nhất là về Tây Sơn.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
La Révolte et la guerre des Tayson d'après
les Franciscains Espagnols
de Cochinchine

Cuộc nổi dậy và chiến tranh Tây Sơn theo các tu sĩ dòng Phanxicô Tây Ban Nha ở Đàng Trong.

LỜI NGƯỜI DỊCH
Lịch sử nên được soi chiếu từ nhiều góc nhìn khác nhau. Nếu chính sử triều Nguyễn, sử liệu dân gian, thậm chí sử liệu của nhà Thanh đã góp phần giúp chúng ta hiểu rõ hơn về phong trào Tây Sơn, thì những tường thuật của các giáo sĩ Công giáo đang trực tiếp hoạt động tại Đàng Trong cuối thế kỷ XVIII lại mở ra một nguồn tư liệu đặc biệt quý giá. Họ không chỉ là những người trực tiếp quan sát mà còn là những nhân chứng sống giữa những biến động dữ dội của thời đại.
Cuốn sách Cuộc nổi dậy của phong trào Tây Sơn dưới góc nhìn của các giáo sĩ Dòng Phanxicô Tây Ban Nha Đàng Trong là một công trình tập hợp, dịch (sang tiếng Pháp) và phân tích các bức thư, báo cáo gửi về dòng/tòa thánh của các giáo sĩ dòng Phanxicô (Franciscan) người Tây Ban Nha đang truyền giáo tại vùng Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVIII.
Khác với nhiều công trình nghiên cứu hiện đại được xây dựng trên cơ sở đối chiếu nhiều nguồn tư liệu, các văn bản trong cuốn sách này phản ánh cách nhìn của những người đương thời. Họ chứng kiến sự sụp đổ của chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong, sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào Tây Sơn, những cuộc chiến tranh liên miên giữa các thế lực chính trị, cũng như những biến động tác động trực tiếp đến đời sống các cộng đồng tín hữu Công giáo. Vì vậy, bên cạnh những sự kiện lịch sử, người đọc còn bắt gặp những chi tiết sinh động về xã hội, kinh tế, phong tục, đời sống tôn giáo và tâm lý của con người trong một giai đoạn đầy biến động.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Trải dài từ giai đoạn khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ (1771) cho đến các cuộc đối đầu nảy lửa giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Khác với các giáo sĩ dòng Tên (Jesuits) hay Hội Thừa sai Paris (MEP) vốn gắn bó mật thiết và hỗ trợ trực tiếp cho Nguyễn Ánh (như Giám mục Bá Đa Lộc), các giáo sĩ Tây Ban Nha dòng Phanxicô có một góc nhìn tương đối độc lập hơn.Tài liệu này cung cấp những chi tiết rất thực tế về kỷ luật quân đội, các chiến thuật tâm lý (chẳng hạn như mô tả về tiếng huýt sáo vang dội của quân Tây Sơn trước khi giáp trận, khiến họ có biệt danh là "quân đội huýt gió"), và chính sách "cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo" ở giai đoạn đầu của phong trào.
Tập hợp thư từ này phản ánh chân thực tình cảnh khổ cực của người dân, tác động khốc liệt của chiến tranh lên các làng mạc, số phận của cộng đồng Công giáo địa phương, cũng như sự can thiệp của các lực lượng ngoại quốc như quân Xiêm hay cướp biển Hoa Nam.
Dĩ nhiên, các ghi chép này không phải là những văn bản hoàn toàn khách quan. Các tác giả đều là những nhà truyền giáo Công giáo, mang trong mình sứ vụ tôn giáo và chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh chính trị cũng như nhận thức của thời đại. Cách đánh giá của họ đối với phong trào Tây Sơn, đối với các nhân vật lịch sử và các biến cố chính trị đôi khi phản ánh lập trường riêng của cộng đồng truyền giáo hơn là cái nhìn trung lập của một sử gia hiện đại. Chính vì vậy, bản dịch này được giới thiệu như một nguồn sử liệu gốc để bạn đọc tham khảo, đối chiếu với các nguồn tư liệu Việt Nam và quốc tế khác, thay vì xem đó là kết luận cuối cùng về lịch sử.
Qua những thư từ trao đổi, chúng ta thấy những nhân vật lịch sử hiện lên rất sinh động, từ 18 thủ lĩnh phong trào Tây Sơn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Phúc Dương, Hoàng Ngũ Phúc, Phạm Văn Tham, Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc, các sĩ quan Pháp như Manuel…mỗi nhân vật một tính cách, từ góc nhìn trực tiếp của các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô. Ta thấy các âm mưu chính trị, cướp đoạt 3 tàu chiến và vũ khí để trang bị cho quân Nguyễn Ánh bằng cách giết chết thuyền trưởng và toàn bộ binh lính Bồ Đào Nha của Manuel (ở đây tác giả không nói Nguyễn Ánh và Bá Đa Lộc có tham gia âm mưu này không, nhưng người đọc sẽ tự tìm ra câu trả lời); thậm chí, Manuel còn giết luôn cả giáo sĩ Antoine đồng hương người Pháp có mặt trên tàu.
Chúng ta cũng thấy cảnh quân Tây Sơn chỉ đốt cháy 9 cái điện thờ 9 đời chúa Nguyễn ở tỉnh Chàm [tức Quảng Nam] chứ chưa thấy nói đào mồ cuốc mả như Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn “chế tạo” ra sự kiện này.
Cuộc sống người dân Đàng Trong khắp nơi khổ cực vì sưu cao thuế nặng của các chúa Nguyễn, đặc biệt thuế muối, nên lúc đầu người dân hưởng ứng nhiệt liệt phong trào nổi dậy của Tây Sơn, tuy nhiên, về sau, do những mâu thuẫn nội tại, cùng với những chính sách cai trị có phần khắc nghiệt,lại với sự can thiệp từ các thế lực ngoại bang: Nguyễn Ánh hết cầu cứu Bồ Đào Nha lại Xiêm, Pháp, và Pháp đã hỗ trợ tối đa có thể, với các sĩ quan và 500 lính chứ không phải như sử nhà Nguyễn vẫn không thừa nhận. Ngoài Bắc Hà là quân Thanh do Thái hậu mẹ Lê Chiêu Thống và những quan nhà Lê mời nhằm khôi phục ngai vàng cho nhà Lê, thực chất là chiếm nước ta, khiến Nguyễn Huệ phải kéo quân ra Bắc đánh đẹp, tạo điều kiện cho Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định.
Trong quá trình chuyển ngữ, chúng tôi cố gắng giữ trung thành với nguyên tác tiếng Tây Ban Nha, nhưng chủ yếu dựa vào bản tiếng Pháp, đồng thời hiệu đính các tên riêng, địa danh, thuật ngữ lịch sử và tôn giáo để phù hợp với cách gọi phổ biến trong nghiên cứu hiện nay. Đối với một số thuật ngữ cổ, cách phiên âm địa danh hay cách gọi các nhân vật theo truyền thống Tây Ban Nha, chúng tôi giữ nguyên khi cần thiết và bổ sung chú thích nhằm giúp độc giả thuận tiện trong việc tra cứu cũng như đối chiếu với các tài liệu khác.
Chúng ta có thể tìm thấy các tài liệu này ở những nguồn sau:
1. Nguyên bản tiếng Tây Ban Nha: thư từ của Fray Diego và các giáo sĩ Phanxicô khác (viết trên giấy lụa mỏng — "papel de arroz") được lưu giữ tại văn khố của Tỉnh dòng Phanxicô San Gregorio de Filipinas, hiện đặt tại Madrid.
2. Các thư này được dịch và công bố trên Bulletin de la Société des Études Indochinoises (Saigon), Nouvelle Série, Tome XV, số 3-4, năm 1940 — đây chính là nguồn được nhiều sách sử Việt (kể cả các công trình về Tây Sơn) trích lại qua trung gian.
3. Một đoạn thư gốc tiếng Tây Ban Nha của Fray Diego, kể lại việc quân Tây Sơn tấn công giáo xứ của ông ở vùng Champa vào tháng 3, có thể tìm thấy trích dẫn trong các nghiên cứu về ông (đoạn ông kể việc trốn vào núi, bị quân nổi dậy lục soát nhà, sau đó các quan lại của quân Tây Sơn lại đến xin ông chữa bệnh).
4. Archivo Franciscano Ibero-Oriental (AFIO), Madrid — kế thừa văn khố Tỉnh dòng San Gregorio de Filipinas, nơi lưu thư từ gốc của các giáo sĩ Phanxicô ở Cochinchina thế kỷ 18. [Kho lưu trữ Archivo Franciscano Ibero-Oriental (AFIO) hiện đặt tại Tu viện San Antonio del Retiro, Madrid, thuộc Tỉnh dòng Phanxicô "de la Inmaculada". Đây chính là nơi kế thừa toàn bộ văn khố của Tỉnh dòng San Gregorio Magno de Filipinas — tỉnh dòng quản lý các sứ vụ ở Philippines, Trung Hoa, Nhật, Cochinchina, Cambodia (1578–1898). Khối tài liệu này ban đầu được gọi là "Archivo de Manila", sau chuyển về Pastrana (Guadalajara), rồi năm 1977 chuyển hẳn về Madrid. Kho có 9 phông (fondo), trong đó phông "M: Misiones" (Sứ vụ truyền giáo) là nơi khả năng cao nhất chứa thư từ của các giáo sĩ ở Cochinchina thời Tây Sơn, bao gồm cả thư của Fray Diego de San Benito (tức "Diego de Jumilla")]
5. Catálogo de Religiosos Franciscanos (Manila, Imprenta del Real Colegio de Santo Tomás, 1880) — có trích đoạn thư và tiểu sử.
6. Công trình của Padre Gómez Platero và Memorial của Padre Juan Duárez trình Carlos IV năm 1784 — đều trích thư từ gốc.

Hy vọng rằng cuốn sách sẽ góp phần bổ sung thêm một tiếng nói từ bên ngoài vào bức tranh đa chiều của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII. Những trang tư liệu này không chỉ giúp chúng ta hiểu thêm về phong trào Tây Sơn mà còn phản ánh mối quan hệ giữa Việt Nam với thế giới Công giáo, với các đoàn truyền giáo châu Âu và với bối cảnh quốc tế của thời kỳ cận đại.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Cuộc nổi dậy và chiến tranh Tây Sơn
theo các tu sĩ dòng Phanxicô Tây Ban Nha ở Đàng Trong

~ * ~
Để tưởng nhớ Cố Linh mục E. Perreaux
(A la mémoire du R. P. E. Perreaux)

[R. P. E. Perreaux (Révérend Père E. Perreaux): Kính thưa Cha / Cố Linh mục Perreaux. Đây là lời đề tặng để tưởng nhớ một giáo sĩ có công trạng trong giáo phận hoặc trong hội nghiên cứu thời bấy giờ.]
Do thiếu vắng các tài liệu lưu trữ bằng ngôn ngữ bản địa — vốn đã biến mất hoặc vẫn nằm ngoài tầm tiếp cận của các nhà nghiên cứu — các bức thư và báo cáo do những nhà truyền giáo từ phương Tây viết nên đã trở thành một trong những nguồn sử liệu nền tảng cho lịch sử hiện đại của Đông Dương thời kỳ trước khi người Pháp đến. [A défaut des archives en langue locale... (Do thiếu vắng các tài liệu lưu trữ bằng ngôn ngữ bản địa...): Đoạn này phản ánh một thực tế lịch sử. Do chiến tranh liên miên (đặc biệt là cuộc chiến Tây Sơn - Chúa Nguyễn), nhiều văn thư, gia phả, địa bạ bằng chữ Nôm và chữ Hán của triều đình hay dòng họ ở Đàng Trong đã bị đốt phá hoặc thất lạc. Vì vậy, các ghi chép của phương Tây trở thành nguồn tài liệu đối chiếu cực kỳ quan trọng].
Thư từ của các nhà truyền giáo Pháp phần lớn đã được xuất bản trọn vẹn, đặc biệt là nhờ vào công lao của Cố Linh mục L. Launay thuộc Hội Thừa sai Hải ngoại (MEP) [Missions Étrangères (Hội Thừa sai Hải ngoại Paris - MEP): Tổ chức Giáo hội Công giáo của Pháp đóng vai trò cực kỳ lớn tại Việt Nam từ thế kỷ XVII. Họ lưu trữ rất kỹ hệ thống thư từ của các giáo sĩ (như Bá Đa Lộc)]— một Hội mà như ai cũng biết, đã đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc truyền giáo được tiếp tục qua nhiều thế kỷ tại đất nước An Nam. Ngược lại, thư từ của các tu sĩ thuộc các dòng tu khác như dòng Tên (Jésuites), dòng Đa Minh (Dominicains), dòng Phanxicô (Franciscains) thì ít được biết đến hơn nhiều. Theo chúng tôi được biết, cho đến nay những thư từ này vẫn chưa được xuất bản một cách hệ thống. Bài viết mà độc giả sắp đọc dưới đây sẽ lấp đầy một phần khoảng trống đó, liên quan đến các tu sĩ dòng Phanxicô Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ XVIII. [Dòng Tên (Jésuites) từng hoạt động mạnh ở thế kỷ XVII nhưng bị giải thể một thời gian vào thế kỷ XVIII. Dòng Đa Minh chủ yếu hoạt động ở Đàng Ngoài (Bắc Bộ). Dòng Phanxicô (Franciscan) Tây Ban Nha hoạt động mạnh ở Đàng Trong (Nam Bộ và Nam Trung Bộ ngày nay) và chính là đối tượng được khai thác trong tập tài liệu này.]
Các bức thư gốc được Cha Lorenzo Pérez công bố dưới phiên bản tiếng Pháp đem lại một đóng góp vô cùng hữu ích cho tri thức lịch sử của chúng ta về giai đoạn mở đầu của phong trào khởi nghĩa lớn từng làm điêu đứng đất nước An Nam trong phần tư cuối của thế kỷ XVIII — một phong trào mà ở thời kỳ sơ khởi của nó mang tính chất xã hội nhiều hơn là chính trị [Caractère social plus encore que politique (Mang tính chất xã hội nhiều hơn là chính trị): Đây là một nhận định của các sử học phương Tây thời kỳ đó. Họ nhận thấy phong trào Tây Sơn lúc ban đầu mang tính chất "xã hội" rõ rệt (phản kháng lại sự áp bức của quyền thần Trương Phúc Loan, lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo, cứu đói nhân dân) trước khi nó mở rộng thành một cuộc chiến tranh tranh giành quyền lực chính trị mang quy mô toàn quốc]. — cũng như cho hiểu biết của chúng ta về những cuộc chiến đầu tiên do vị vua trẻ Nguyễn Ánh duy trì chống lại những kẻ tiếm ngôi Tây Sơn. [phản ánh quan điểm mang tính chính thống của triều Nguyễn (và góc nhìn chịu ảnh hưởng từ phương Tây bênh vực Nguyễn Ánh lúc bấy giờ), xem nhà Nguyễn là chính thống và phong trào Tây Sơn là "giặc nổi loạn" hay "kẻ chiếm ngôi".]
Cô M. Villa, giáo viên tại trường Trung học Chasseloup-Laubal [Lycée Chasseloup-Laubal (Trường Trung học Chasseloup-Laubal): Ngôi trường danh tiếng thời thuộc địa tại Sài Gòn (thành lập năm 1874). Sau năm 1954, trường đổi tên thành trường Jean-Jacques Rousseau, và hiện nay chính là Trường THPT Lê Quý Đôn, TP.HCM. Cô M. Villa là giáo viên tiếng Tây Ban Nha hoặc tiếng Pháp tại đây], đã vui lòng đảm nhận việc dịch bài viết này, bài cận cuối trong một loạt bài nghiên cứu quan trọng gồm mười lăm bài do Cha Lorenzo Pérez thực hiện về “Người Tây Ban Nha tại Đế quốc An Nam”. Loạt mười lăm bài này đã được xuất bản từ năm 1922 đến năm 1933 trên Tạp chí nghiên cứu dòng Phanxicô (Revue des études franciscaines), được biên tập tại Madrid với tên gọi Archivo ibéro-americano (bài thứ mười bốn, tháng 7 - tháng 9 năm 1932, số 107, trang 321-365).
Chúng tôi có được văn bản của bài viết nói trên là nhờ vào lòng tốt tuyệt vời của Cố Linh mục E. Perreaux, thuộc Hội Thừa sai Hải ngoại. Trong một chuyến viếng thăm của chúng tôi đến gặp ngài vào tháng 4 năm 1939 tại Quy Nhơn [Linh mục Perreaux sống, làm việc và trao tài liệu cho G. Taboulet vào tháng 4 năm 1939. Quy Nhơn (Bình Định) cũng chính là vùng đất phát tích của phong trào Tây Sơn], chính Cha Perreaux đã tự tay cho chúng tôi mượn số 107 của tạp chí Archives ibéro-américaines [Một tạp chí học thuật uy tín của Tây Ban Nha chuyên nghiên cứu về lịch sử các dòng tu và hoạt động truyền giáo của người Tây Ban Nha/Bồ Đào Nha tại khu vực Mỹ-La tinh và châu Á] nhằm phục vụ cho mục đích dịch thuật. Cố Linh mục Perreaux đã qua đời vào ngày 15 tháng 11 năm 1939 tại giáo phận truyền giáo mà ngài đã phục vụ lâu năm và đầy lòng quả cảm. Tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của vị tu sĩ có trái tim nhân hậu, một người am hiểu sâu sắc về lịch sử An Nam.
Ở phần cuối của bài dịch này, độc giả sẽ tìm thấy một danh mục tóm tắt các chủ đề đã được xử lý trong các bài viết khác của Cha Lorenzo Pérez dành cho hoạt động tại Đông Dương của “Phái bộ truyền giáo Thiên thần” (la Séraphique Mission) thuộc các Anh Em Giảng Thuyết người Tây Ban Nha. Hội Nghiên cứu Đông Dương (La Société des Études Indochinoises) dự kiến sẽ xuất bản sau này bản dịch của tất cả các bài viết này của Cha Lorenzo Pérez, ngay khi hội có thể thu thập được trọn bộ các số tạp chí Archives ibéro-américaines nơi các bài viết đó từng xuất hiện.
[La Séraphique Mission (Phái bộ truyền giáo Thiên thần): Một thuật ngữ tôn giáo đặc trưng của Công giáo (thường gắn liền với tước hiệu của Thánh Phanxicô thành Assisi – Doctor Seraphicus). Ở đây từ này được dùng để chỉ phái bộ truyền giáo của dòng Phanxicô. Tuy nhiên, cụm từ kế tiếp "Frères Prêcheurs" (Anh Em Giảng Thuyết) trong văn bản gốc thường dùng để chỉ dòng Đa Minh (Dominicans), có thể tác giả Taboulet đã gộp chung hoặc có sự nhầm lẫn nhẹ về thuật ngữ dòng tu khi viết vắn tắt].

G. TABOULET.
[G. Taboulet (Georges Taboulet): là một nhà sử học, giáo sư người Pháp tại Đông Dương, nổi tiếng với công trình đồ sộ "La Geste française en Indochine" (Công cuộc của người Pháp ở Đông Dương). Chính ông là người đã phát hiện, biên tập và giới thiệu tài liệu này lên Tập san Hội Nghiên cứu Đông Dương (BSEI).]
---
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Người Tây Ban Nha tại Đế quốc An Nam
Tạp chí Archives Ibéro-américaines, tháng 7 - tháng 9 năm 1932, số 107, (bài thứ mười bốn).
Tóm tắt nội dung
Cuộc nổi dậy ở Đàng Trong. — Người Đàng Ngoài đánh chiếm triều đình Huế. — Huệ Vương nhường ngôi cho cháu là Dương, cả hai sau đó đều bị sát hại. — Hoàng tử Nguyễn Ánh, cháu nội của Huệ Vương, cai trị vương quốc. — Những đau khổ mà các nhà truyền giáo dòng Phanxicô phải gánh chịu do quân Tây Sơn gây ra. — Nguyễn Ánh tái chiếm vương quốc và tự tuyên bố là Hoàng đế của Đàng Trong và Đàng Ngoài.
-----------------
Cuộc nổi dậy ở Đàng Trong
Năm 1767, khi Võ Vương băng hà, Huệ Vương lên nắm quyền. Ông ta đã phạm phải những sai lầm lớn đến mức làm mất lòng phần lớn các chư hầu của mình. Ba anh em có tên là: Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Lữ và Nguyễn Văn Huệ, có nguồn gốc từ vùng núi phía Tây (1), đã quyết định tận dụng cơ hội mở ra trước mắt họ.
[Võ Vương: Nguyễn Phúc Khoát 阮福濶, hay Nguyễn Thế Tông, húy là Hiểu 曉, còn gọi là Chúa Võ, hiệu Vũ vương hay Võ vương (1714–1765) là vị chúa Nguyễn thứ 8 của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ năm 1738 đến năm 1765. Trong thời gian cai trị ban đầu, Nguyễn Phúc Khoát đạt được một số thành tựu, bao gồm việc đánh bại Chân Lạp, mở rộng lãnh thổ Đại Việt đến cực nam hiện nay (tỉnh Cà Mau). Tuy nhiên, trong giai đoạn sau, ông trở nên tự mãn và bỏ bê triều chính, có hành vi loạn luân với em họ (con chú ruột) là Nguyễn Phúc Ngọc Cầu, đánh thuế cao lên người dân, và dung túng cho gian thần Trương Phúc Loan khiến nạn tham nhũng tràn lan. Cơ nghiệp các chúa Nguyễn bắt đầu suy tàn từ giai đoạn này].
[Huệ Vương: Nguyễn Phúc Thuần (1754 - 1777, ở ngôi 1765 - 1777), hay Nguyễn Duệ Tông, Định Vương còn có tên khác là Nguyễn Phúc Hân, là người cai trị thứ 9 của chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong vào thời kì Lê Trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Sau cái chết của phụ vương, Nguyễn Phúc Thuần được quyền thần Trương Phúc Loan lập làm Vương khi chỉ mới 12 tuổi, và người này sau đó thâu tóm hết chính quyền ở Nam Hà, và làm nhiều việc khiến triều đình Phú Xuân ngày càng lụn bại, suy yếu.
Từ năm 1771, anh em Nguyễn Văn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn, quân Nhà Nguyễn liên tục bị thua trận. Đến năm 1774, Chúa Trịnh ở miền Bắc nhân Nam Hà có loạn, xuất quân nam hạ, Chúa Nguyễn phải bỏ Phú Xuân, chạy về Gia Định. Sau khi quân Trịnh chiếm được Phú Xuân và rút đi, thì Nhà Nguyễn vẫn phải đối phó với quân Tây Sơn thế lực ngày càng phát triển, cộng thêm sự tranh chấp trong nội bộ giữa các tướng Nguyễn, khiến tình hình càng thêm nguy khốn. Cuối năm 1776, Nguyễn Phúc Thuần dưới sức ép của tướng mạnh là Lý Tài, phải nhường ngôi cho cháu là Đông cung Nguyễn Phúc Dương, bản thân tự xưng là Thái Thượng vương, nhưng vẫn còn nắm binh quyền trong tay, ngầm tranh chấp với phe Phúc Dương, hình thành cục diện 2 vương. Nửa cuối năm 1777, quân Tây Sơn truy kích vào nơi ở của các Chúa Nguyễn, hai vương Nhà Nguyễn đều bị bắt và xử tử. Sau đó, một thành viên trong vương tộc là Nguyễn Phúc Ánh được tôn lên ngôi chúa, và lãnh đạo quân Nguyễn chống chọi liên tục với Tây Sơn trong 25 năm tiếp theo, cuối cùng giành được thắng lợi cuối cùng và thống nhất Việt Nam vào năm 1802, mở ra vương triều Nguyễn].
-
1. Về ba anh em này, những người khởi xướng cuộc nổi dậy ở Đàng Trong, có thể tham khảo thêm hai công trình hữu ích sau:
a) "Brevis relatio sublevationis regis tyranni..." viết bằng tiếng Latinh bởi Tu sĩ Emmanuel a Castluera, dòng Anh Em Hèn Mọn (Phanxicô), nhà truyền giáo tại Đàng Trong. Xem Archives Ibéro-américaines, T. XVIII, trang 296.
b) Tu sĩ Marcos Gispert, O. P., "Histoire des Missions Dominicaines au Tonkin" (Lịch sử các phái bộ truyền giáo dòng Đa Minh tại Đàng Ngoài), Avila 1928. Chương LVII, trang 310-315. Theo tác giả này, ba anh em có nguồn gốc từ Đàng Ngoài và đã tấn công vua Đàng Trong vào năm 1785. Nhận định này hoàn toàn thiếu chính xác. Ba anh em thuộc về gia tộc họ Nguyễn ở Đàng Trong, và cuộc nổi dậy bắt đầu vào năm 1773 (Cf. Maybon, trang 183-416).
-
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Vào giữa tháng 4 năm 1773, người anh cả trong ba anh em, Nguyễn Văn Nhạc, một nhân vật mưu mô và khôn ngoan, kẻ đã phung phí hết tài sản thừa kế của cha ông, thấy mình buộc phải chuyển sang làm những nghề hèn hạ vì ít quen với việc lao động, ông đã kích động cuộc nổi dậy với hai người em và một số bạn bè của mình, những người đã đứng lên chống lại vị chúa tể hợp pháp của họ. Nhạc đã tập hợp được khoảng 23 hoặc 24 kẻ ngoài vòng pháp luật, những kẻ mà hành vi tội lỗi đã buộc họ phải lẩn trốn trong rừng sâu; ông cùng họ bước ra khỏi sào huyệt. Họ bắt đầu đi qua các làng mạc, tuyên bố với người dân rằng họ không phải là những kẻ trộm cướp, mà là những sứ giả của thiên đình, muốn thiết lập công lý và giải phóng người dân khỏi ách thống trị tàn bạo của Chúa [Nguyễn], của các quan lại và cố vấn của ông ta. Họ rao giảng sự bình đẳng trong mọi sự. Trung thành với học thuyết của mình, những người đi tiên phong của chủ nghĩa xã hội hiện đại này đã tước đoạt tài sản của các quan lại và người giàu để phân phát cho người nghèo. Các ngôi làng, vốn bị đè bẹp bởi các khoản thuế bóc lột nặng nề, đã vội vã thề trung thành với những kẻ tự xưng là người cứu rỗi này. [Précurseurs du socialisme moderne (Những người đi tiên phong của chủ nghĩa xã hội hiện đại): Đây là một nhận xét rất thú vị từ các giáo sĩ. Khẩu hiệu "lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo" cùng lý tưởng cào bằng, bình đẳng xã hội của giai đoạn đầu khởi nghĩa Tây Sơn có những nét tương đồng trực quan với các học thuyết xã hội sơ khai ở châu Âu.]
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Tại tỉnh Chàm [Le Quang-Nam; chú thích của người dịch], những kẻ nổi loạn đã giao ước với người Trung Quốc [đây chính là các lực lượng thương nhân, dân tị nạn phản Thanh phục Minh hoặc các nhóm vũ trang người Hoa tại Đàng Trong, tiêu biểu nhất là hai toán quân Hòa Nghĩa quân (của Lý Tài) và Trung Nghĩa quân (của Tập Đình) đã đầu quân và trở thành những đội lính xung kích vô cùng thiện chiến của Tây Sơn ở giai đoạn đầu], hứa với họ rằng nếu họ giúp đỡ trong công cuộc này, họ sẽ giải phóng người dân khỏi ách áp bức mà họ phải gánh chịu từ trước đến nay, và sẽ bổ nhiệm một trong các quan chức của họ làm vua Đàng Trong. Nhờ vào viện binh này và sự đồng thuận của nhân dân — những người bắt đầu gọi họ là "những kẻ trộm từ thiện" —, quân Tây Sơn (được gọi như vậy vì họ đến từ vùng núi phía Tây; Tayson trong tiếng An Nam) đã tiến vào các thành thị vào tháng 8 năm 1773 trên lưng ngựa và vũ trang đầy đủ, tay vẫy cao ngọn cờ nổi dậy.
Họ tiến thẳng về phía các cung điện hoàng gia, tịch thu tất cả các tài liệu họ tìm thấy rồi phóng hỏa thiêu rụi [quân Tây Sơn đốt sạch các văn bản giấy tờ khi chiếm dinh phủ giải thích lý do tại sao các tài liệu lưu trữ bản địa của chính quyền chúa Nguyễn tại địa phương bị hủy diệt gần hết, buộc các nhà sử học sau này phải tìm kiếm mảnh ghép từ thư từ của các giáo sĩ như Diego de Jumilla]. Họ ban hành một sắc lệnh cấm nộp thuế cho Chúa, trả tự do cho tất cả tù nhân, cả người Công giáo lẫn người ngoại đạo, và tống giam các quan lại cùng binh lính trung thành vào chỗ của họ với lý do những người này là kẻ áp bức dân chúng khốn khổ.
Trong suốt bảy tháng, quân Tây Sơn đi qua các tỉnh Quy Nhơn và Phú Yên như những kẻ chiến thắng mà không gặp phải sự kháng cự nào đáng kể. Khi họ tràn vào tỉnh Quảng Ngãi, viên Tổng đốc muốn ngăn cản bước tiến của họ; ông ta đã dàn trận với số binh lính sẵn có và năm tháp voi chiến. Viên Tổng đốc bị đánh bại hoàn toàn, và quân nổi dậy đã chiếm lấy vũ khí cùng năm tháp voi đó. Viên quan này buộc phải bỏ chạy; ông ta đã báo cho Chúa Nguyễn biết về những gì đang diễn ra trong vương quốc.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Nhà Chúa, khi biết tin về thất bại tại Quảng Ngãi, muộn màng hiểu rằng đây không phải là những kẻ trộm cướp tầm thường như các cố vấn tham nhũng và phản bội đã quả quyết với ông. Ông quyết định tiến quân đối đầu với họ bằng ba chiến thuyền và bốn đạo quân. Không hề tỏ ra sợ hãi trước quân đội chính quy, thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Nhạc đã tuyển mộ quân sĩ về phía mình, tổ chức một cách hết sức cẩn thận ba đạo quân: một đạo gồm người Trung Quốc, một đạo gồm những kẻ ngoài vòng pháp luật từ vùng rừng núi, và đạo thứ ba là những người Đàng Trong nổi dậy.


1784646524057.png
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Cuộc chiến bắt đầu vào tháng 11 năm 1773 bằng các cuộc tấn công đồng thời vào các tỉnh Quy Nhơn và Quảng Ngãi. Cuộc chiến kéo dài ba ngày bất phân thắng bại, cho đến khi người Trung Quốc bắt giữ được một trong các viên quan của Chúa Nguyễn. Nhận được tin này, các vị quan khác tháo chạy, để lại chiến trường tự do cho quân nổi dậy. Họ đã cố thủ tại các tỉnh nói trên, chiếm lấy toàn bộ vũ khí của quân đội hoàng gia, và phóng hỏa cung điện của viên Tổng đốc tỉnh Quảng Ngãi. Chúa Nguyễn, khi nhận ra mối nguy hiểm đang đe dọa mình, đã ra lệnh củng cố phòng thủ cảng Chàm cũng như kinh thành. Quân nổi dậy, được khích lệ bởi những thành công trước đó và lợi dụng sự bất hòa đang ngự trị giữa các quan lại và Nhà Chúa, đã quyết định xâm chiếm tỉnh này [Castuera, l. c, folios 1-10.]
----
Cha Diego de Jumilla, người có mặt tại các tỉnh Chàm và Quy Nhơn khi những sự kiện này diễn ra, kể lại cho chúng ta trong một bức thư gửi cho Cha Jean Sanguero về nguồn gốc và sự phát triển của cuộc nổi dậy, cũng như những nỗi gian truân cá nhân của ông:
“Kính chào Maria (Ave Maria). Gửi tới Khâm mạng kính yêu của chúng tôi, Jean Salguero, Thầy Giảng thuyết (Frère Prêcheur), nhà truyền giáo tông tòa, đấng bề trên của Phái bộ truyền giáo Thiên thần tại Đàng Trong và Chân Lap…
[Jean Salguero: Giáo sĩ dòng Đa Minh (chứ không phải Phanxicô, dựa vào cụm từ Frère Prêcheur - Anh Em Giảng Thuyết). Điều này cho thấy mối liên hệ và trao đổi thông tin chặt chẽ giữa các dòng tu khác nhau tại vùng truyền giáo Đông Nam Á lúc bấy giờ.]
Tôi xin kính chào lòng Bác ái của Ngài, cũng như các anh em của chúng ta, những tu sĩ truyền giáo, những người mà tôi cầu chúc mọi điều tốt đẹp nhất có thể về cả phần hồn lẫn phần xác, và trong niềm vâng phục hoàn toàn, luôn sẵn sàng đón nhận các mệnh lệnh của Ngài, tôi xin được tường trình tới Ngài những việc sau đây. Một tháng sau khi rời xa sự đồng hành tử tế và dễ chịu của Ngài, khi vừa đến tỉnh Chàm (Quảng Nam), tại cảng Fai-Fo [Hội An; thương cảng sầm uất bậc nhất Đàng Trong thời bấy giờ, nơi các giáo sĩ thường cập thuyền trước khi tỏa đi các giáo phận ở miền Trung], tôi đã viết thư cho Ngài thông qua trung gian của viên thuyền trưởng đã đưa tôi đến đây. Người này là họ hàng của vị Outbruom-thay ở Bến Nghé [Bản gốc dùng "Ray-gon" (cách ghi âm sơ khai của Gia Định / Sài Gòn trước khi người Pháp chuẩn hóa thành SaigonBến Nghé là tên cũ của Sài Gòn], đang trên đường trở về nơi ở của mình tại Natlang (Nha Trang) và có mang theo các nhu yếu phẩm dành cho Ngài. Ông ấy tuyên bố với tôi rằng vào tháng 12, ông có kế hoạch đến tỉnh Ray-gon (Sài Gòn), điều này khiến tôi giả định rằng hiện Ngài đã nhận được thư của tôi. Trong thư đó, tôi đã thông báo với Ngài về việc tôi đến tỉnh này và về tất cả những gì đã xảy ra cho đến tháng 7, thời điểm mà tôi đang chuẩn bị đi làm mục vụ cho các tín hữu Kitô của chúng ta tại tỉnh Qui-Nhon (Quy Nhơn).
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Tôi khởi hành đi đến tỉnh này bằng đường bộ vào ngày 7 tháng 8 và đã đến nơi an toàn vào ngày 17 cùng tháng, tại giáo điểm truyền giáo Gia-huu [Gia Hựu; một giáo xứ rất cổ và nổi tiếng nằm ở phía bắc tỉnh Bình Định (nay thuộc xã Hoài Châu Bắc, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định). Đây chính là vùng đất giáp ranh giữa Quảng Ngãi và Bình Định, nơi tiếng súng khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra rất sớm] của chúng ta. Tôi đã lưu lại định cư ở đó theo lời mời của các thầy giảng bởi vì lúc đó cuộc nổi dậy mà tôi sẽ kể lại sau đây đã bắt đầu nhen nhóm. Tôi ở lại đó khoảng một tháng, làm phép giải tội cho các Kitô hữu trong làng cũng như các giáo xứ lân cận, nơi số lượng tín hữu ước tính lên đến khoảng 600 người.
Thầy giảng trưởng của chúng tôi đã không cho phép tôi đi đến giáo xứ Dou-hau [Tên một làng/giáo xứ cổ hoặc một địa danh tương đương được ghi âm lại) nằm trong vùng phụ cận chiến sự giữa Hoài Nhơn (Bình Định) và Đức Phổ (Quảng Ngãi)], đó thực sự là một điều quan phòng, vì những Kitô hữu đến đó ngày hôm ấy và trở về nhà trong đêm đã chạm trán với toán quân nổi dậy, gồm gần 600 người. Ngày hôm sau, quân nổi dậy tàn phá ngôi làng, cướp bóc tất cả những gì họ tìm thấy trong các ngôi nhà. Ngôi nhà thờ của chúng ta cũng không được tha; chúng lấy đi tấm khăn trải bàn thờ và đập nát bức tượng Đức Mẹ Porteria vẽ trên vải do các nhà truyền giáo tiền bối của chúng ta để lại. Chúng giật lấy tượng Chúa Kitô bằng ngà voi trên bàn thờ, bẻ gãy một cánh tay rồi ném vào một bãi cát cạnh khu vườn nhà thờ, nơi những diễn viên kịch ngoại đạo đã nhặt lấy [từ "gentils" thời kỳ này được các giáo sĩ dùng để chỉ những người dân bản địa không theo đạo Công giáo. "Comédiens" chỉ các gánh hát tuồng, hát bội phổ biến ở vùng Bình Định - Quảng Nam thời bấy giờ]. Các Kitô hữu muốn chuộc lại tượng Chúa Kitô này với giá 10 quan tiền, nhưng những người ngoại đạo lại đòi tới 20 quan. Về bức tượng Đức Mẹ Porteria, chỉ còn lại phần chân, vốn đã bị tên Ou-trun? [giáo sĩ ghi âm lại các chức danh hoặc tước hiệu quan lại thời chúa Nguyễn hoặc thủ lĩnh quân Tây Sơn lúc bấy giờ (Ví dụ: Ou-trun có thể là ghi âm của chức "Ông Tuần" hoặc "Vị chỉ huy")] đốt cháy. Chúng cũng lấy đi các bức rèm mà tôi đã cung hiến, không để lại thứ gì ngoại trừ các sách Thánh Luật ở Đàng Trong, những thứ mà chúng không thèm đụng tới. Tất cả điều này đã được thầy giảng trưởng của làng Dou-hau tường thuật lại bằng văn bản cho tôi. [Livres de la Sainte Loi en Cochinchine (Sách Thánh Luật ở Đàng Trong): Các sách giáo lý hoặc luật tôn giáo được chép bằng chữ Nôm hoặc chữ Quốc ngữ sơ khai. Do quân Tây Sơn không đọc hiểu hoặc không quan tâm đến sách tôn giáo nên đã bỏ lại.]
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
1784646624854.png
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Những sự kiện này đã gieo rắc nỗi kinh hoàng cho các thầy giảng và các tín hữu. Người thì muốn tôi lánh đi; kẻ lại phản đối, cam kết sẽ giấu tôi trong một khu rừng nơi có hai ngôi nhà của người Công giáo. Hơn 30 thầy giảng từ các làng khác nhau đã tập hợp lại và thảo luận trong gần 8 ngày về việc phải làm gì với tôi. Chính lúc đó chúng tôi hay tin những kẻ nổi loạn đã kéo đến nhà viên quan tổng đốc của tỉnh, buộc ông ta phải bỏ trốn khi trang phục còn chưa kịp chỉnh tề, mang theo chiếc ấn tín mà ông ta đã làm rơi và thất lạc trong lúc vội vã. Chúng phóng hỏa cung điện và bắt đầu làm chủ toàn bộ tỉnh này mà không gặp phải bất kỳ sự kháng cự nào, vì chúng hành quyết tất cả những ai có ý định chống đối. Khi nghe tin về các sự kiện này, tất cả các thầy giảng của chúng tôi, ngoại trừ ba người trong số họ, đều bỏ trốn, bỏ mặc tôi trong một tình cảnh mà Ngài có thể tự đoán ra. Các giáo dân, với số lượng hơn 300 người, khóc lóc và chìm trong nỗi đau buồn tột cùng; người ta cứ ngỡ như đang ở ngày Phán xét Cuối cùng.
Cuối cùng, ngay trong đêm đó, vị thầy giảng trưởng tên là Ou-thu-Cao, một con người đầy quyết đoán và lòng dũng cảm, đã tập hợp được 20 giáo dân trẻ tuổi cùng ba thầy giảng [Ou-thu-Cao (Biện Cao / Thầy Cao): Nhân vật "Ou-thu" ở đây phản ánh một chức danh Công giáo địa phương thời bấy giờ, có thể là ghi âm từ chữ Ông Thu hoặc Biện (người phụ trách giúp việc cho linh mục và quản lý giáo xứ, rất có uy tín trong làng đạo). Ông là người dũng cảm đứng ra tổ chức cuộc giải cứu cho Cha Diego]. Họ đem theo ba con ngựa và nhận nhiệm vụ hộ tống tôi. Chúng tôi rời làng vào lúc 3 giờ sáng, hướng về phía tỉnh Quảng Ngãi. Tôi phải thực hiện cuộc hành trình nằm trong một chiếc võng (hoặc rọ lưới), còn các thanh niên chịu trách nhiệm mang vác các đồ tế tự của chúng tôi. Bằng những lối đi bí mật, chúng tôi đã vượt qua được những dãy núi cao.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ngày hôm sau, vào khoảng năm giờ chiều, chúng tôi đến bờ biển. Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình thêm ba ngày nữa, chịu đựng cơn khát, cái nóng và cái đói một cách không thể tả xiết, bởi bấy giờ là tháng Chín, và chẳng có nơi nào có nhà cửa để có thể nghỉ ngơi dù chỉ một lát, mà xung quanh chỉ toàn là rừng rậm và các vùng đất cát. Hai thanh niên giáo dân giả làm binh lính để vận chuyển các đồ tế tự nhà thờ dọc theo con đường. Cuối cùng, nhờ vào sự bảo hộ của Thiên Chúa Toàn Năng và Đức Mẹ, chúng tôi đã đến được làng Chia-La [làng Trà Đóa (Tỉnh Quảng Nam) hoặc Thôn Trà Đóa, xã Bình Đào, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam], nơi có giáo điểm truyền giáo của các tu sĩ dòng Tên (Jésuites). Tại đây, chúng tôi đã dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, Đấng đã giải thoát chúng tôi khỏi những hiểm nguy rõ ràng như vậy. Theo lời thỉnh cầu của các giáo dân trong tỉnh, tôi đã lưu lại hai ngày tại Trà Đóa, nơi vốn không có linh mục coi sóc. Nhân tiện, Cố Linh mục Jean de Loureiro, Bề trên của các Cha dòng Tên, cũng đã nhiều lần báo cáo về sự việc này. [(Gioan de Loureiro, 1717–1791): Nhà truyền giáo dòng Tên người Bồ Đào Nha vô cùng nổi tiếng. Ông không chỉ là một giáo sĩ mà còn là một nhà thực vật học, tác giả cuốn sách kinh điển "Flora Cochinchinensis" (Thực vật học Đàng Trong). Việc văn bản nhắc tới ông chứng minh tính xác thực rất cao của các sự kiện lịch sử được ghi chép.]
Các giáo dân Quy Nhơn đi theo tôi sau đó đã trở về nhà, còn tôi thì ở lại dưới sự bảo vệ của các giáo dân thuộc dòng Tên. Trong hơn một tháng, tôi đã làm mục vụ cho các giáo xứ khác nhau trong tỉnh. Tất cả họ đều sống trong nỗi sợ hãi tột cùng, vì số lượng quân nổi dậy đã tăng lên một cách đáng kể sau khi chúng chiếm được tỉnh Quy Nhơn và sau cuộc tháo chạy của tất cả các viên quan lại — những người vốn đã đến ẩn náu tại tỉnh Quảng Ngãi. [Giai đoạn tháng 9 năm 1773, quân Tây Sơn đánh chiếm thành Quy Nhơn (bằng mưu kế giả bị bắt trong cũi của Nguyễn Nhạc). Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên và các quan lại hoảng sợ bỏ chạy ra Quảng Ngãi, gây nên một làn sóng hoảng loạn lan truyền sang cả các cộng đồng giáo dân].
Giữa lúc đó, tôi nhận được một bức thư từ vị thầy giảng trưởng của chúng tôi ở Quy Nhơn là Ou-thu-Cao, trong đó ông báo tin cho tôi rằng quân nổi dậy cũng đang tìm cách đánh chiếm cả tỉnh Quảng Ngãi. Tôi liền tập hợp tất cả các thầy giảng lại để thông báo tin xấu này, cũng như về nghĩa vụ phải quay trở lại tỉnh Chàm (Quảng Nam) của tôi, cụ thể là tại giáo điểm Thien-doa [có lẽ là giáo xứ Vân Đõa] của chúng tôi. Tôi biết rằng ở đó có người anh em của chúng ta, Thầy Giảng thuyết Fernand de Olmedilla, để cả hai chúng tôi, sau khi đồng lòng nhất trí, sẽ đưa ra quyết định liên quan đến bản thân cũng như tài sản của Giáo điểm truyền giáo mà chúng tôi sẽ phải cất giấu, phòng trường hợp quân nổi dậy đến đánh chiếm triều đình và vương quốc theo như ý định của chúng.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Sau khi nghe các lý do của tôi, các thầy giảng đã nhanh chóng thu xếp mọi thứ cho chuyến đi của tôi. Bốn ngày trôi qua trong công tác chuẩn bị này và tôi khởi hành đi tỉnh Chàm, đồng hành cùng hai thầy giảng, những người đã dẫn tôi đi theo những lối đường vòng cho đến một giáo xứ tên là Sang, cách Trà Đóa một ngày đường bộ. Chúng tôi đã đến đó mà không gặp hiểm nguy, nhưng kiệt sức vì một lộ trình vô cùng gian khổ và khắc nghiệt. Tôi đang làm phép giải tội tại đó được hai ngày thì đột nhiên, một trong các thầy giảng của chúng tôi từ tỉnh Quảng Nam chuyển đến cho tôi một bức thư. Trong thư, ông báo cho tôi biết rằng, theo sắc lệnh hoàng gia của Triều đình, binh lính đã nhận được lệnh phải khám xét cẩn thận tất cả hành khách, hỏi họ từ đâu đến, đi đâu, ngay cả khi đó là các quan lại đang di chuyển bằng võng hay kiệu, vì sợ rằng họ vận chuyển thư từ của những kẻ nổi loạn. [chi tiết Triều đình chúa Nguyễn ra lệnh khám xét toàn bộ hành khách (kể cả quan lại đi kiệu/võng) cho thấy chính quyền Đàng Trong đang rơi vào trạng thái cực kỳ hoảng loạn và thiết quân luật cao độ. Họ sợ hãi các mạng lưới nội gián, đưa thư bí mật liên lạc giữa quân Tây Sơn và các lực lượng chống đối triều đình ở các tỉnh.]
Khi hay tin này, nỗi khiếp sợ của các thầy giảng và giáo dân lớn đến mức, ngoại trừ một thầy giảng của tỉnh Chàm, tất cả họ đều bỏ trốn ngay trong đêm đó, bỏ mặc tôi cùng với toàn bộ các đồ tế tự. Tôi phó thác bản thân dưới sự che chở của Chúa Quan Phòng. Hai thầy giảng đã đi theo tôi từ Trà Đóa, can đảm hơn những người khác một chút, đã đi tìm kiếm một chiếc thuyền trong đêm. Nhưng họ chẳng thể tìm được chiếc nào, vì viên quan tổng đốc của tỉnh đã ra lệnh nghiêm cấm không cho bất kỳ thuyền bè nào ra khơi; chỉ các thuyền đánh cá mới được phép đi, với điều kiện phải chịu sự kiểm tra lúc đi lẫn lúc về. Mọi ngả đường đều khép lại trước mắt tôi và tôi không biết phải đưa ra quyết định thế nào. Chính lúc ấy, một trong những giáo dân tuyên xưng đức tin (những người bị kết án phải cắt cỏ cho voi ăn — một hình phạt áp đặt lên họ vì họ không chịu giẫm đạp lên Thánh Ảnh Chúa Kitô hay chối bỏ Tôn giáo Thánh của chúng tôi; những người tuyên xưng này đeo quanh cổ một chiếc vòng sắt dày bằng một ngón tay, trên đó có treo một tấm thẻ cũng bằng sắt khắc hai chữ tba-dao (tà đạo), (nghĩa là luật xấu xa hay tà đạo) đã đến tìm tôi. Một trong những người tuyên xưng này đến gặp tôi và nói:
- Xin Cha đừng sợ hãi điều gì, vì con sẽ đi cùng Cha, nhưng chúng ta cần phải đi theo một con đường mà các hành khách khác không biết đến; con chỉ xin Cha giao cho các thầy giảng khác chịu trách nhiệm mang vác đồ tế tự và đồ đạc cá nhân của Cha.
Tôi đã van nài những thầy giảng này, nhưng họ run rẩy vì sợ hãi, và không ai muốn nhận mang vác bất cứ thứ gì.
Trước sự hèn nhát như vậy, người tuyên xưng đức tin và thầy giảng tỉnh Chàm quyết định đề xuất với các thiếu nữ trong làng nhận mang vác các gánh nặng. Họ lập tức đồng ý với một lòng dũng cảm thực sự kiên cường để vận chuyển tất cả đồ đạc của tôi đến tỉnh Chàm và thực hiện điều đó bằng con đường bộ. Thấy phụ nữ đưa ra quyết định như vậy, một vài thanh niên mới bằng lòng giúp đỡ tôi và mang vác những gánh nặng nhất. Xin tạ ơn Thiên Chúa, Đấng trong những giờ phút nghiêm trọng biết cách đánh động lòng người để bảo vệ dân được chọn của Ngài và vì vinh quang lớn lao hơn của Ngài. Infirma mundi elegit Deus (Thiên Chúa đã chọn những gì thế gian cho là yếu đuối) ... [việc các nam thầy giảng sợ hãi lẩn trốn, trong khi các cô gái trẻ trong làng đứng ra gánh vác các hòm đồ tế tự đi xuyên đêm qua các lối mòn hiểm trở là một chi tiết rất chân thực, làm nổi bật bức tranh xã hội hỗn loạn, nơi mà cấu trúc sinh hoạt thường ngày bị đảo lộn vì chiến sự].
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Chúng tôi rời giáo xứ Sang để tiến vào tỉnh Chàm. Tôi khởi hành cùng với người tuyên xưng đức tin mà tôi đã nhắc đến ở trên, cũng như thầy giảng của tỉnh Chàm. Chúng tôi đi bộ khoảng nửa ngày băng qua các vùng đất hoang gần bờ biển; sau đó, băng qua con đường thiên lý [Chemin royal (Đường Thiên lý / Đường cái quan): Tuyến đường huyết mạch dọc đất nước nối liền các tỉnh. Do con đường này đang bị quân triều đình chốt chặn để lục soát, đoàn trốn chạy của Cha Diego buộc phải chọn lộ trình nguy hiểm hơn: đi men theo các rặng núi phía Tây, nơi có các bộ tộc thiểu số hoặc các nhóm lục lâm thảo khấu sinh sống] tại một nơi hoang vắng, chúng tôi hướng thẳng về phía những ngọn núi, nơi những kẻ ngoài vòng pháp luật chuyên thực hiện nhiều vụ trộm cướp đang sinh sống. Khi thấy mình ở trong vùng núi này, biết rõ sự dữ tợn của những cư dân nơi đây, tôi nói với những người dẫn đường của mình rằng:
- Để giúp tôi tránh bị bắt, các anh lại đang đẩy tôi vào chỗ chết trong những khu rừng này.
Nhưng họ chỉ biết lặp đi lặp lại rằng:
- Thưa Cha, Cha đừng sợ điều gì cả, vì vào giờ này, những kẻ ngoài vòng pháp luật không rời khỏi sào huyệt của chúng để đi cướp bóc đâu.
Tôi phải thú nhận rằng con người yếu đuối và khốn khổ là tôi đây lúc đó đã run rẩy vì sợ hãi; nhưng tôi vẫn giữ trọn vẹn lòng tin tưởng vào sự bảo bọc của Chúa chúng ta và và của Đức Mẹ Rất Thánh của Người. Tôi bảo họ hãy chạy và khẩn trương lên, nhưng đá sỏi, bụi rậm và vô số đoạn dốc bấp bênh của con đường đã không cho phép họ làm vậy. Trong một số thung lũng của vùng này, người ta thấp thoáng thấy một số lượng lớn đất đai canh tác, vốn từng thuộc sở hữu của người Đàng Trong, những người đã buộc phải bỏ hoang chúng vì những vụ trộm cướp và giết chóc gần như xảy ra hàng ngày của những kẻ ngoài vòng pháp luật trên núi [chi tiết các thung lũng có đất đai trù phú từng được canh tác nhưng phải bỏ hoang cho thấy an ninh ở vùng giáp ranh miền núi Đàng Trong cuối thời chúa Nguyễn đã suy sụp trầm trọng. Nạn cướp bóc của các nhóm lục lâm (bandits des montagnes) xảy ra thường ném dân nghèo vào cảnh ly tán trước cả khi tiếng súng Tây Sơn bùng nổ]. Nhờ sự giúp đỡ của Đấng Toàn Năng, vào khoảng ba giờ chiều, chúng tôi đã ra được khỏi rừng và đến được những vùng đất gieo trồng của tỉnh Chàm. Niềm vui của chúng tôi vì thoát khỏi những hiểm nguy lớn nhất là vô bờ bến, nó tiếp thêm niềm an ủi và cho phép chúng tôi — dù đã kiệt sức — tiếp tục đi bộ đến một giáo xứ tên là Ka-do [có lẽ là một làng đạo nằm gần vùng hạ lưu sông, thuộc địa phận giáp ranh Quảng Ngãi - Quảng Nam]. Vào khoảng giữa buổi chiều, chúng tôi đến được nhà của thầy giảng. Tôi lập tức đi đến phòng nguyện để tạ ơn Uy linh Thiên Chúa vì tất cả những ơn lành đã nhận được; bởi lẽ chỉ có ai từng băng qua những ngọn núi này và biết được sự tàn bạo của cư dân nơi đây mới có thể nhận thức được mức độ nghiêm trọng của những mối nguy hiểm mà Chúa đã gìn giữ chúng tôi. Nguyện xin chúc tụng và ngợi khen Người! Đuối sức vì mệt mỏi, chúng tôi trải chiếu nằm ngay trên nền đất. Tôi là người kiệt sức hơn cả, vì tôi không quen với những chuyến hành trình như vậy ở các vùng đất tương tự. Tuy nhiên, tôi đã tìm thấy sức mạnh để nói với họ rằng:
- Xin Chúa tha thứ cho sự táo bạo mà các anh đã thể hiện khi kéo tôi vào những con đường như thế này! Tôi thú thật rằng tôi sẽ không bao giờ liều mình vào những khu rừng này nữa, ngay cả khi người ta hứa phong tôi làm vua Đàng Trong; tôi sẽ không bao giờ làm thế ngoại trừ vì tình yêu Thiên Chúa và vì phần rỗi của các linh hồn.
Và họ trả lời tôi rằng:
- Thưa Cha, đúng là chỉ có lòng tin tưởng mà chúng con đặt nơi Thiên Chúa mới cho phép chúng con đẩy người thầy và người cha tinh thần của mình vào những hiểm nguy như vậy. Xin tạ ơn Trời vì ơn lành này và biết bao ơn lành khác mà chúng con còn mắc nợ Người.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,716
Động cơ
727,890 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ít lâu sau, người ta dọn bữa ăn cho chúng tôi, và trong lúc chúng tôi đang hồi phục sức lực thì các thanh niên và phụ nữ vận chuyển đồ tế tự cùng đồ đạc của chúng tôi đã đến nơi. Một số người đi xuyên qua rừng; những người khác lại đi theo con đường thiên lý (đường cái quan). Sự xuất hiện bình an vô sự của họ càng làm tăng thêm niềm vui của chúng tôi, vì những mối nguy hiểm đáng sợ nhất giờ đây đã được loại bỏ. Từ giáo xứ nơi chúng tôi đang ở, người ta có thể đi bằng thuyền theo đường sông để đến giáo điểm Thien-doa của chúng tôi trong vòng chưa đầy hai ngày hai đêm. Các thầy giảng của giáo xứ này đã nài xin tôi ở lại với họ một thời gian để làm mục vụ. Tôi đã đồng ý và lưu lại đó năm ngày, nhưng với điều kiện là tất cả các giáo dân từ giáo xứ Sang đến cùng đồ đạc của chúng tôi phải ở lại với tôi cho đến khi tôi khởi hành đi Thien-doa. Họ đã đồng ý và nhờ vậy tôi có thể giữ tất cả họ bên mình.
 
Thông tin thớt
Đang tải
Top