So sánh những người xuất sắc thì chỉ có tính chất tương đối và dễ gây tranh cãi.
Với người bình thường, Nobel cùng 1 lĩnh vực có giá trị như nhau, ngang bằng nhau, xuất sắc ngang nhau.
Nhưng trong con mắt và suy nghĩ sâu sắc của các nhà khoa học thực sự, thì không có sự ngang hàng. Có sự kính trọng, rất kính trọng, đặc biệt kính trọng, ngưỡng mộ đặc biệt.
Theo tôi, cả 3 ông mà cụ
rachfan nhắc đến đều rất xuất sắc, tuy nhiên đừng nên tin vào wiki, hay thông tin do google cung cấp, hay phát biểu của ông bạn của Yang (như Dyson), ba người này ở level hơi khác nhau.
Ông A. Einstein ở một đẳng cấp cao hơn ông PM Dirac, còn PM Dirac có phần nhỉnh hơn ông CN Yang một chút.
Tại sao? Rồi, chắc chắn tôi sẽ giải thích một cách dễ hiểu, không cần đao to búa lớn.
Thứ nhất là Einstein chỉ cần 1 thành tựu nhỏ là giải thích được hiện tượng quang điện là đã đủ nhận giải Nobel.
Công trình thuyết tương đối hẹp 1905 không được trao giải, nhưng cũng thừa xứng đáng 1 giải Nobel nữa (đồng với vài người khác).
Đặc biệt là thuyết tương đối rộng (lý thuyết hấp dẫn cổ điển) 1915 ở một đẳng cấp cao hơn hẳn, nói dễ hiểu bằng 100 lần giải Nobel thông thường, và không hề được trao giải Nobel. Dù những tiên đoán của nó chỉ vài năm sau đã được chứng minh là chính xác. Không được giải, nhưng nó vẫn là nổi tiếng nhất trong suốt thế kỷ 20, và không giải nào đứng ngang hàng với nó được.
Vì sao? Vì nó dám thay đổi những khái niệm cơ bản cơ sở nhất, thời gian, cách đo thời gian, không gian phẳng và cong, vận tốc, gia tốc, khối lượng, năng lượng, bản chất hình học của lực hấp dẫn. Nó cũng dẫn đến những lĩnh vực khoa học mới như vũ trụ, ... hoặc những đối tượng mới như lỗ đen, lỗ trắng, ... hoặc những thách thức thống nhất tương tác, thống nhất hình học với lượng tử, thống nhất các lý thuyết mâu thuẫn nhau trong VL, vv.
Einstein ở một đẳng cấp trí tuệ cao hơn, ông ta thay đổi nhận thức những khái niệm cơ sở nhất. Ông ấy chỉ làm thí nghiệm tưởng tượng, cách ông ta tưởng tượng mọi thứ theo cách riêng, đáng ngưỡng mộ và unique. Một mình ông ta (cá nhân, không phải tập thể) tạo ra hẳn một lý thuyết chính vừa đẹp vừa đơn giản, trong 2 lý thuyết chính VL đương đại, thì rõ ràng khó ai đứng ngang hàng được.
2. Dirac làm được những việc phi thường ở độ tuổi 26-27, thống nhất được thuyết lượng tử và thuyết tương đối hẹp (sáng tạo ra phương trình Dirac), qua đó tiên đoán được phản vật chất. Dirac nhận giải Nobel ở độ tuổi 31, cùng Schrodinger 1933, như là những người tiên phong xuất sắc nhất của thời sáng tạo lý thuyết lượng tử. Dirac cũng kiệt xuất khi tiên phong chỉ ra được hình thức luận (dù là heuristic) liên kết giữa lý thuyết cổ điển và lượng tử. Ông ta vô cùng kiệm lời nhưng suy nghĩ thì vô cùng sâu sắc. Dirac còn nhiều thành tựu đặc biệt khác mình chứng cho suy nghĩ đặc biệt sâu sắc, đẹp và tinh tế.
3. CN Yang và Tsung-Dao-Lee năm 1956 công bố nghiên cứu cho thấy họ đã nghiên cứu các kết quả thực nghiệm rất kỹ, và họ nhận thấy rằng "nguyên lý" P-parity (đối xứng gương do ông Wigner nghĩ ra năm 1927, được nhóm Pauli hậu thuẫn mạnh) không hề được thực nghiệm chứng minh. Họ đề nghị ý tưởng làm thí nghiệm kiểm tra P-parity trong tương tác yếu. Ngay năm 1956 Wu một nhà VL thực nghiệm (gốc TQ) tiến hành làm thí nghiệm và đúng như họ đặt nghi vấn, P-parity không hề được bảo toàn. Năm 1957, Yang và Lee được nhận giải Nobel. Giải thưởng có tính thời sự rất cao lúc đó, nhưng không có giá trị cao trong dài hạn.
Yang thực chất được các đồng nghiệp đánh giá cao nhất về những kết quả trong cơ học thống kê, và lý thuyết gauge không giao hoán. Yang là nhà khoa học rất xuất sắc, sâu sắc, khả năng phân tích và phán đoán xuất sắc.
Dirac vô cùng kiệm lời nhưng những kết quả của ông ấy đẹp, có tầm ảnh hưởng lâu dài hơn kết quả của Yang.