- Biển số
- OF-786854
- Ngày cấp bằng
- 7/8/21
- Số km
- 1,902
- Động cơ
- 569,438 Mã lực
dài quá, lan man, cần thí chủ cô đọc và sub lại, công đức vô lượng
Thưa sư, ảnh bịa câu chiện nói xấu sư, ảnh nghĩ mình vừa giỏi vừa sâu sắc, vậy ạ.dài quá, lan man, cần thí chủ cô đọc và sub lại, công đức vô lượng

E lại nghĩ đến phòng sư thầy trụ trì 1 ngôi chùa ở mìnhHaizz.. nhắc đến chùa và thầy, em thì chỉ nghĩ đến cái bàn của gã sư thầy bên đất Thái Lan
Thiện tai, thiện tai... ^^

không phải là cá sao biết cá không vuiThưa sư, ảnh bịa câu chiện nói xấu sư, ảnh nghĩ mình vừa giỏi vừa sâu sắc, vậy ạ.![]()

Cô đi đầu em chê
Bản chất là càng được học hành rèn luyện và thành đạt về sau càng lộ rõ bản chất thủa hồng hoang. Con vật mà chọn sai mục tiêu thì bầy đàn phải chịu tổn thất chứ con đầu đàn thường không hề hấn gì.Hay .
Cụ xem tgđv sẽ thấy bản chất của đv muôn loài như 1. Chúng ta may mà có gd, vh,trí tuệ nên mới khác được chúng về cơ bản.
Thầy Thích là Phụt phỏng Khầy?E lại nghĩ đến phòng sư thầy trụ trì 1 ngôi chùa ở mình![]()

Buông để cho thằng răn mình nó đớp đấy, còn lâu nhé......bớt nhiều chuyện.
Trên núi có một ngôi chùa nổi tiếng thanh tịnh.
Chùa thanh tịnh vì nằm xa chợ. Gạo có người gánh lên, nước có người khiêng tới, củi có người bổ sẵn. Những tiếng mặc cả, cãi vã và đòi nợ đều dừng lại dưới chân núi, bởi con đường lên chùa quá dốc, người ta phải dành hơi mà thở.
Vị sư trụ trì sống ở đó đã nhiều năm. Mỗi sáng, nghe tiếng chim trong vườn, ngài lại thấy thương dân làng: chỉ vì chưa biết buông bỏ mà họ cứ phải khổ.
Một hôm, ngài xuống chợ để chỉ cho họ con đường nhẹ nhõm.
Ngài dừng trước hàng cá.
Một người đàn bà đang làm cá, bên cạnh là đứa con nhỏ ngủ trong chiếc thúng lót áo cũ.
— Mỗi sinh linh đều quý mạng sống — ngài nói. — Sao thí chủ không bỏ nghề này để lòng được thanh thản?
Người đàn bà đặt dao xuống.
— Bạch thầy, con cũng muốn đổi nghề. Thầy biết nơi nào thuê người, xin chỉ giúp. Con phải trả tiền nhà vào cuối tuần.
— Trước hết phải có lòng muốn bỏ.
— Dạ, lòng thì con có. Còn tiền nhà, chủ nhà muốn có tiền.
Ngài nhìn lưỡi dao, khẽ lắc đầu rồi đi tiếp.
Ở hàng cơm, ngài khuyên người thợ đá đừng ăn thịt. Người thợ hỏi một bữa khác vừa túi tiền thì nên ăn những gì. Ngài đáp rằng người biết đủ sẽ tự tìm được đường.
Người thợ cúi nhìn đĩa cơm.
Anh vốn chỉ hỏi món ăn.
Ra đến đầu chợ, ngài gặp ông chủ lò rèn đang giục thợ làm nốt mẻ cuốc.
— Vì sao cứ phải thêm nữa? — ngài hỏi. — Có một lại muốn hai. Có hai lại muốn mười. Lòng tham khiến người ta chẳng lúc nào được nghỉ.
Ông thợ rèn lau mồ hôi:
— Dạ, tuần sau vào vụ. Người ta cần hai mươi chiếc cuốc. Con mới làm được mười ba.
— Việc đời chẳng bao giờ hết. Phải biết dừng.
Ông thợ rèn nhìn ngài một lúc rồi hỏi:
— Bảy người còn lại cũng dừng cày, phải không thầy?
Ngài thở dài.
Dân làng quả thật quá nặng lòng với vật chất.
Chiều ấy, ngài đứng dưới gốc đa giảng về sự buông bỏ. Người đến nghe khá đông, phần vì kính trọng, phần vì sau một ngày làm việc, ai cũng muốn biết có cách nào bớt khổ.
Ngài giảng rất hay.
Tiền bạc là gánh nặng. Ham muốn là dây trói. Tranh giành là nguồn cơn đau khổ. Muốn an nhiên, trước hết phải tập đặt xuống.
Dứt lời, ngài gọi một người phu gánh đang đứng ngoài cùng:
— Vai thí chủ đã chai cả rồi. Sao không đặt gánh xuống?
Người phu làm theo.
Hai thúng gạo chạm đất. Anh thẳng lưng, thở ra một hơi dài.
— Thấy nhẹ chưa? — ngài hỏi.
— Dạ, nhẹ lắm.
Ngài mỉm cười nhìn mọi người.
Người phu cũng mỉm cười:
— Nhưng lát nữa ai gánh tiếp, bạch thầy?
— Sao vừa đặt xuống đã nghĩ đến gánh lên?
— Vì số gạo này phải lên chùa trước tối.
Đám đông im đi một lát.
Vị sư nhìn hai thúng gạo. Quả nhiên, trên miệng thúng có buộc mảnh vải ghi tên chùa.
— Việc công quả khác với lòng tham — ngài nói.
Người phu gật đầu:
— Dạ. Nhưng lúc thầy bảo con buông, thầy chưa hỏi trong thúng có gì.
Một bà cụ ngồi gần đó bật cười. Ngài không vui, nhưng vẫn giữ giọng từ tốn:
— Thí chủ còn chấp vào câu chữ.
Người phu vội cúi đầu nhận lỗi, rồi nhờ người đỡ đòn gánh lên vai.
Hôm sau, dân làng quyết định thử làm theo lời giảng.
Họ không có ý bất kính. Sống nhọc nhằn đã lâu, nghe nói chỉ cần buông xuống là nhẹ, ai chẳng muốn thử.
Người bán cá nghỉ chợ.
Ông thợ rèn tắt lò.
Người lái đò buộc thuyền vào cọc.
Người phu gánh kê đòn dưới mái hiên rồi ra gốc đa ngồi thở.
Buổi sáng ấy, làng thanh bình lạ thường. Không tiếng búa, không tiếng mặc cả, không ai giục ai. Vị sư đi qua, thấy mọi người ngồi yên, trong lòng rất mãn nguyện.
Đến trưa, một chú tiểu xuống hỏi sao chưa có gạo đưa lên chùa.
Người phu chắp tay:
— Tôi đang tập đặt gánh xuống.
Chú tiểu sang nhà người lái đò nhờ chở bao gạo từ bên kia sông.
Người lái đò chắp tay:
— Tôi đang tập dừng lại.
Chú tiểu chạy đến lò rèn, định nhờ sửa chiếc bánh xe kéo gạo.
Ông thợ rèn cũng chắp tay:
— Tôi đang tập biết đủ.
Chiều xuống, bếp chùa chưa đỏ lửa.
Vị sư phải trở lại gốc đa. Dân làng vẫn ngồi đó, bụng đói nhưng lòng đầy quyết tâm.
Ngài bảo:
— Các vị hiểu sai lời ta. Buông bỏ đâu có nghĩa là bỏ hết công việc.
Người đàn bà bán cá đứng dậy:
— Vậy xin thầy chỉ rõ. Nghề con thì nên bỏ. Gánh gạo của anh ấy thì phải mang. Lò của ông ấy nên tắt lúc nào, nên đỏ lúc nào? Chúng con ít chữ, sợ buông nhầm.
— Phải tùy hoàn cảnh.
— Dạ. Thế hôm qua, sao thầy chưa hỏi hoàn cảnh của chúng con?
Ngài sửa lại tay áo.
Một người thợ đề nghị:
— Hay ngày mai thầy xuống sống cùng làng một tháng. Thầy cứ chọn một việc. Chúng con sẽ lo cho thầy chỗ ở. Làm cùng nhau rồi, thầy chỉ điều gì, chúng con cũng dễ hiểu hơn.
Vị sư nghiêm mặt:
— Mỗi người một phận sự. Việc của ta là tu hành và dẫn đường. Nếu ta cũng vướng vào chuyện cơm áo như các vị, ai sẽ giữ lấy đạo?
Không ai nói gì nữa.
Trời đã muộn. Người phu lặng lẽ đứng dậy, về lấy đòn gánh. Người lái đò ra sông. Ông thợ rèn trở lại lò. Người đàn bà bế con, tính xem ngày mai phải bán thêm bao nhiêu cá để bù buổi chợ đã nghỉ.
Vị sư nhìn họ, nhẹ nhõm vì cuối cùng mọi người cũng hiểu.
Trên đường lên núi, ngài đi trước. Người phu gánh gạo theo sau.
Đến đoạn dốc, nghe tiếng thở nặng nhọc, ngài quay lại:
— Chỉ cần tâm không vướng bận, bước chân tự khắc nhẹ nhàng.
Người phu không đáp. Anh đang giữ hơi.
Lên tới cổng chùa, ngài bảo đặt gạo vào bếp, rồi ân cần dặn:
— Mai xuống làng, nhớ nói với mọi người: ta ở trên này lúc nào cũng thấy lòng nhẹ tênh.
Người phu đặt gánh xuống, xoa vai.
— Dạ. Con sẽ nói rõ gạo do ai mang lên.
Dài quá, chắc bỏ qua cho thằng AI nó summarize lại coi dư lào?NHÌN THẤU - BUÔNG XẢ LÀ GÌ
tháng 8 15, 2014
NIỆM PHẬT TÂM ĐỊA CÔNG PHU
Nguyên tác: Lão Pháp sư Tịnh Không
(Giác ngộ - Nhìn thấy rỗng toang - buông xuống hết)
1. Nhìn thấu mới buông xả được.
Nguyên nhân người đời nay niệm Phật không bằng người đời xưa cũng là vì không thể ‘nhìn thấu, buông xả’. Chữ nhìn thấu là trình độ hiểu rõ đối với trạng thái sanh hoạt hiện thực; nếu chúng ta không hiểu rõ, ham mê luyến tiếc thế gian thì đương nhiên sẽ không buông xuống nổi. Cho nên hơn phân nửa những người niệm Phật vãng sanh là người già bảy tám chục tuổi, vì họ nhìn thấy nhiều, từng trải nhiều, biết hết thảy những việc trong thế gian đều là hư ảo không thật, bất luận sinh sống trong cảnh thuận hoặc nghịch, trải qua một thời gian dài thì sẽ chán chường, sinh sống cảm thấy chán ghét, không muốn ở lại thêm nữa, đến lúc này thì buông xuống hết, đây là một yếu tố rất quan trọng. Nếu cảm thấy thế gian này còn rất đẹp đẽ, vẫn còn muốn sống thêm vài năm nữa, thậm chí muốn sống thêm vài chục năm, vài trăm năm nữa, họ buông xả, buông xuống hết không nổi thì công phu làm sao có thể đắc lực cho được! Phật pháp nói đến chuyện giác ngộ tức là giác ngộ việc này.
Chú thích: Buông xả và nhìn thấu là hai việc bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau, nếu bạn có thể buông xả một phần thì bạn sẽ nhìn rõ, nhìn thấu thêm một phần; nếu có thể nhìn thấu một phần thì bạn có thể buông xả thêm một phần. Nói cách khác, Bồ Tát từ lúc sơ phát tâm đến lúc thành Phật đạo đều tức là công phu nhìn thấu, buông xả bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau.
Trong sáu Ba La Mật của Bồ Tát (Lục độ Ba La Mật) thì Bát nhã Ba La Mật là nhìn thấu, năm thứ còn lại đều là buông xả:
Bố thí là buông xả tâm tham.
Trì giới là buông xả ác niệm.
Nhẫn nhục là buông xả tâm sân nhuế, đố kỵ
Tinh tấn là buông xả giải đãi, làm biếng.
Thiền định là buông xả tán loạn.
Năm thứ này đều là buông xả, Bát nhã tức là minh bạch, rõ ràng. Cho nên sáu Ba La Mật quy nạp lại tức là 4 chữ: ‘nhìn thấu, buông xả’.
Trích từ “Thái thượng Cảm ứng thiên”, tập 21, 8/6/1999 Trai đường Tịnh Tông Học Hội Singapore
Trong kinh đức Phật dạy chúng ta buông xả là buông xả phiền não, buông xả dục vọng, chứ không phải buông xả công việc làm. Ngược lại còn phải nỗ lực hết lòng làm việc. Nếu cả công việc làm cũng buông xuống thì đức Phật không cần phải giảng kinh thuyết pháp nữa.
2. Hiểu rõ nhân quả không oán hận và hối hận.
Mọi người đều biết chuyện đời vô thường, biết chuyện trong đời không có gì chẳng là nhân duyên quả báo cả, nhưng hiểu không được chắc thật, không cụ thể. Lúc trước lão cư sĩ Ô Dư Khánh đã kể lại một câu chuyện thật. Vào thời kháng chiến [chống Nhật] bắt đầu, cụ ở Thượng Hải quen một thương gia, ông này làm ăn buôn bán rất thuận lợi, có một người con trai duy nhất, người con này rất nghịch ngợm. Một hôm người con đi học mang theo 10 đồng trong túi, làm rớt tờ giấy 10 đồng này trên đường lộ, lúc đó có một người quen đi ngang nhìn thấy nên lượm lên rồi nói chơi với đứa bé: ‘Em kêu tôi bằng Bác thì tôi trả tiền này cho em’. Ðứa bé này trả lời: ‘Nếu ông kêu tôi bằng Bác thì tôi cho ông thêm 10 đồng nữa’. Nghịch ngợm đến như vậy!
Một hôm ông thương gia này ăn mừng sinh nhật và mời rất nhiều bạn bè đến nhà dự tiệc. Hôm ấy ông đột nhiên nhìn thấy gương mặt của đứa bé này và vô cùng kinh ngạc, ngay lúc ấy liền tuyên bố với mọi người hiện diện ông sẽ giao toàn bộ tài sản cho đứa bé. Sau này ông giải thích với bạn bè rằng toàn bộ tài sản của ông vốn là của một người Ðức; lúc trước chiến tranh ông làm việc cho người Ðức này, khi ông chủ trở về Ðức nhờ ông quản lý dùm công ty. Một thời gian sau ông chủ này mất ở bên Ðức và không quay trở lại [Thượng Hải] nữa. Hôm ăn sinh nhật ông đột nhiên nhìn thấy gương mặt của đứa bé hiện ra giống hệt như gương mặt của ông chủ người Ðức, từ đó ông mới biết đứa bé này chính là ông chủ lúc trước (người Ðức)trở lại đầu thai nên ông lập tức trả lại toàn bộ tài sản. Nhờ vậy mà quan hệ cha con mới có thể duy trì.
Ðức Phật nói những người trong nhà như cha con, chồng vợ, anh em đều có quan hệ báo ân, báo oán, đòi nợ, hoặc trả nợ nên mới ở chung một nhà. Ðứa bé này đến là để đòi nợ, nhân duyên quả báo tơ hào chẳng sai. Chúng ta hiểu rõ đạo lý này thì thử nghĩ nếu chúng ta có lỗi đối với người, hiếp đáp người, hãm hại người, nếu người này đầu thai đến nhà chúng ta thì trong tương lai nhất định sẽ làm cho nhà tan cửa nát. Thế nên bất cứ ai trong thế gian đều nhất định không có việc bị thiệt thòi, và cũng không có việc chiếm tiện nghi, lợi dụng người khác được.
Thi ân cho người, giúp đỡ người sẽ nhận được báo đền; hiếp đáp người, dày xéo người, sĩ nhục người, hãm hại người cũng sẽ có báo đền. Nếu sự báo đền này chỉ vừa đúng [không hơn, không kém] thì cũng còn được; nhưng sự báo đền luôn luôn quá đáng, biến thành hận thù oan oan tương báo, đời đời kiếp kiếp không nhường nhịn lẫn nhau, oán hận không bao giờ chấm dứt. Chiến tranh giữa quốc gia này với quốc gia khác cũng như vậy. Tuy dân chúng của hai nước không có oán thù gì với nhau, những người có oán thù chỉ là thiểu số, nhưng nếu họ có quyền lực thì sẽ liên lụy đến rất nhiều người chịu tai họa, tổn hại đến tài sản và sanh mạng của nhiều người, tai hại vô cùng, làm sao có đạo lý không đọa địa ngục cho được? Chúng ta hiểu được đạo lý, hiểu rõ chân tướng sự thật, thì mới biết không nên làm việc này.
Thế nên lục đạo luân hồi chỉ là ân ân oán oán báo đền lẫn nhau mà thôi, chúng ta hiểu được thì sẽ buông xả, biết được thế gian này không vui chút nào. Chư Phật, Bồ Tát nhìn thấy được rõ ràng, chỉ cho chúng ta một con đường quang minh, rộng lớn, đây tức là Ðại thừa Phật pháp, cõi nước chư Phật ở thập phương. Trong pháp Ðại thừa, [các Ngài] lại nói cho chúng ta biết một pháp môn đặc biệt, trong số các cõi nước chư Phật thì cõi Cực Lạc của đức Phật A-Di-Ðà là cõi nước thù thắng tốt đẹp nhất. Không những đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật giới thiệu cho chúng ta, trong bản dịch kinh A-Di-Ðà của đại sư Cưu-Ma-La-Thập nói đến sáu phương Phật tán thán; bản dịch kinh A-Di-Ðà của Huyền Trang đại sư nói đến mười phương Phật tán thán. Kinh Vô Lượng Thọ cũng nói đến mười phương Phật tán thán. Hết thảy chư Phật Như Lai đều khuyên chúng ta cầu sanh Tịnh Ðộ Di-Ðà. Chư Phật, Bồ Tát không gạt người, chúng ta đừng nên hoài nghi lời nói của chư Phật, Bồ Tát. Từ xưa đến nay kinh điển được trao truyền từ đời này sang đời khác, đích thực là được phiên dịch từ tiếng Phạn ở Ấn-Ðộ, có người phiên dịch, có nơi chốn phiên dịch, chứng thật những kinh điển này có thể tin được.
Cả đời xưa và đời nay những người chiếu theo phương pháp này tu hành được vãng sanh rất nhiều. Chúng ta quan sát kỹ càng điều kiện của họ, nói chung so với chúng ta thì không khác gì mấy, không tốt hơn chúng ta nhiều lắm. Nhưng quan trọng nhất là họ có lòng tin vững chắc, nguyện vọng khẩn thiết, buông xả hết thảy, chắc thật niệm Phật. Họ đã làm được điểm này, trên phương diện này chúng ta còn rất kém, chúng ta phải nỗ lực học tập theo họ.![]()
