Cái di tích này em tra cứu từ nhiều nguồn và đọc giới thiệu ở ngay khu di tích mà vẫn thấy rối rắm phức tạp đau hết cả đầu, nhưng cũng vì thế nó rất thú vị. (
thông tin dưới đây em tổng hợp từ nhiều nguồn, do các tư liệu không thống nhất nên em chỉ đảm bảo độ tin cậy khoảng 80% thôi ạ)
Đầu tiên, Lôi Đài và Mộ Hán là hai cái tên không hề liên quan đến nhau.
Mộ Hán là công trình đầu tiên xuất hiện ở đây từ cuối thời Đông Hán trong khoảng 186~219 (Đông Hán kết thúc năm 220). Mộ Hán gồm 2 mộ, một trong hai cái có chôn một cặp vợ chồng.
Bên trên hai cái mộ có một cái gò đất cao 8.5m không có tên, thời gian tồn tại không xác định.
Năm 301~375, tức là khoảng hơn một thế kỷ sau, Trương Mậu vua của Tiền Lương xây Linh Quân Đài trên gò đất đó. Không có tài liệu chứng minh là Trương Mậu biết có cái mộ bên dưới hay không. (Khả năng là không biết).
Sau đó, Lôi Tổ Quán thờ Lôi Thần được xây dựng vào giữa thời Minh, khoảng thế kỷ XV (nhà Minh tồn tại 1368–1644). Và lúc này khu vực đó mới có cái tên là Lôi Đài. Như vậy, hai công trình Lôi Đài và Mộ Hán này cách nhau hơn một thiên niên kỷ.
Và cái tên Lôi Đài Mộ Hán là tên do ngày nay đặt chứ không phải tên có từ xưa.
Về 2 nhân vật trong mộ đến nay vẫn rõ ràng về danh tính. Thông thường mộ có danh tính sẽ như Lăng mộ Tần Thủy Hoàng hay Lăng mộ Võ Tắc Thiên, nhưng do chưa xác định được nên người ta chỉ gọi chung chung là Mộ Hán nghĩa là mộ có từ thời Hán.
Căn cứ vào chữ khắc trên các bức tượng đồng được khai quật, các chuyên gia phán đoán rằng chủ nhân ngôi mộ có lẽ mang họ Trương và từng đảm nhiệm chức “Trương Dịch trưởng”, sau đó còn giữ chức “Tả kỵ thiên nhân quan” của quận Vũ Uy, tức là cũng giữ một chức vị to to thời bấy giờ. Theo sử liệu, vào cuối Đông Hán, khu vực Vũ Uy nằm dưới sự kiểm soát của gia tộc họ Trương. Đến thời Ngụy – Tấn, hậu duệ họ Trương là Trương Mậu đã dựng nên nước Tiền Lương tại đây. Vì vậy, ngôi mộ nằm dưới Lôi Đài rất có thể là mộ tông tộc của hoàng tộc họ Trương nước Tiền Lương. Đáng tiếc, do nạn trộm mộ, một số lượng lớn đồ tùy táng đã bị thất thoát, khiến thân phận của chủ mộ đến nay vẫn không thể được xác định chắc chắn.
Về bức tượng Đồng Bôn Mã, do hoàn cảnh đặc biệt, sau khi được chuyển đến cơ quan bảo tồn văn vật tỉnh Cam Túc, trong một thời gian dài vẫn không được chú ý, người ta coi nó như các hiện vật tìm thấy khác. Chỉ đến năm 1971, khi được Quách Mạt Nhược tận mắt chiêm ngưỡng, chính ông đã đặt cho con ngựa cái tên mỹ miều là “Mã đạp phi yến” và nhờ thế mà nó mới nổi tiếng cũng như được ca ngợi như bây giờ.