• [Thông báo] Diễn đàn tạm thời chuyển tên miền từ OTOFUN.NET sang tên miền OTOFUN.NET.VN.

[Funland] Những khoảnh khắc lịch sử chinh phục không gian

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Space 1967_1_31 (21).jpg

31-1-1967 – đám tang Virgil Grissom tại nghĩa trang quốc gia Arlington
Space 1967_1_31 (12).jpg
Space 1967_1_31 (13).jpg

Space 1967_1_31 (25).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Chuyến bay SOYUZ 1 và cái chết c phi hành gia Liên Xô Vladimir Mikhaylovich Komarov hôm 24/6/1967
Soyuz 1 là tên của một con tàu vũ trụ có người lái trong chương trình không gian Liên Xô. Được phóng vào quỹ đạo vào ngày 23/4/1967, đem theo một nhà du hành vũ trụ Vladimir Mikhaylovich Komarov. Con tàu gặp sự cố khi trở về Trái Đất khiến Komarov thiệt mạng. Đây là trường hợp phi hành gia Liên Xô
tử vong đầu tiên khi thực hiện một chuyến bay vào vũ trụ.
Space 1967_4_24 (2).jpg

Phi hành gia Vladimir Komarov chết hôm 24/4/1967 do dù hòm kín không mở
Space 1967_4_24 (6).jpg

23/4/1967 – Vladimir Komarov chuẩn bị cho chuyến bay Soyuz 1. Ảnh: Sovfoto
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Soyuz là thế hệ tàu không gian 3 chỗ ngồi, mới được sản xuất, có rất nhiều lỗi từ to đến nhỏ chưa khắc phục, dù được một số chuyên gia và cả phi hành gia Gagarin phàn nàn, nhưng vẫn cứ được phóng lên không gian hôm 23/4/1967
Ngay khi vào quỹ đạo trái đất, trong khoang Soyuz 1 bắt đầu xuất hiện sự cố nhỏ, rồi to dần. Trung tâm xử lý chuyến bay từ mặt đất yêu cầu Soyuz trở về trái đất. Sau khi lao xuống cách mặt đất 7 km, dù được bung ra. Nhưng dù bị xoắn và Soyuz 1 rơi tự do từ độ cao 7 km xuống đất tạo ra một tiếng nổ lớn. Komarov chết thảm
Hôm 26/1/1967 Chính phủ Liên Xô tổ chức tang lễ lớn cho ông, và trocót ông được gắn lên thành tường Điện Kreml, Hồng trường Moscow
Space 1967_4_24 (8).jpg
Space 1967_4_24 (9).jpg
Space 1967_4_24 (10).jpg
Space 1967_4_24 (11).jpg
Space 1967_4_24 (12).jpg
Space 1967_4_24 (14).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Space 1967_4_26 (1) Komarov.jpg

26/4/1967- Tang lễ cố phi hành gia Xõ viét Vladimir Komarov (16/3/1927-24./4/1967) tại Kreml
Space 1967_4_26 (2).jpg

26/4/1967- Tang lễ cố phi hành gia Xõ viét Vladimir Komarov (16/3/1927-24./4/1967) tại Kreml
Thủ tướng Alexei Kosygin (giữa), đằng sau ông là phi hành gia Yuri Gagarin
Yuri Gagarin là phi hành gia dự bị của Komarov trong chuyến bay Soyuz 1
Space 1967_4_26 (3).jpg
Space 1967_4_26 (4).jpg

26/4/1967- Valentina Komarova, góa phụ của nhà du hành vũ trụ Liên Xô Vladimir Komarov, hôn bức ảnh của người chồng đã khuất trong lễ tang chính thức của ông, được tổ chức tại Quảng trường Đỏ ở Moscow vào ngày 26 tháng 4 năm 1967.
Space 1967_4_26 (7).jpg

Space 1967_4_26 (10).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Space 1967_6_12 (1) Venera 4.jpg

Venera 4 là tàu thăm dò vũ trụ của Liên Xô, được phóng vào ngày 12 tháng 6 năm 1967, đánh dấu cột mốc lịch sử khi trở thành tàu vũ trụ đầu tiên truyền dữ liệu trực tiếp từ khí quyển của một hành tinh khác (Sao Kim) vào ngày 18 tháng 10 năm 1967. Tàu đã phân tích thành phần khí quyển, phát hiện nồng độ cao khí carbon dioxide và nhiệt độ cực cao trước khi ngừng hoạt động do áp suất bề mặt.
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Space 1967_10_24 (2).jpg

Phi công Neil Armstrong của Dryden bên cạnh chiếc máy bay động cơ tên lửa X-15 số 1 (56-6670) sau một chuyến bay nghiên cứu.
X-15 là một máy bay phản lực dài 50 feet với sải cánh 22 feet. Nó là một phương tiện hình tên lửa với đuôi đứng hình nêm bất thường, cánh mỏng và ngắn, và các tấm chắn bên độc đáo kéo dài dọc theo thân máy bay. X-15 đã được sử dụng trong gần 10 năm, từ tháng 6 năm 1959 đến tháng 10 năm 1968.
Nó đã lập kỷ lục tốc độ và độ cao không chính thức của thế giới.
Vận tốc cực đại: Mach 6.72 (7.274 km/h)
Trần bay: 108 km
Thông tin thu được từ chương trình X-15 rất thành công đã góp phần vào sự phát triển của các chương trình bay vào vũ trụ có người lái Mercury, Gemini và Apollo, và cả chương trình Tàu con thoi. Các chiếc X-15 đã thực hiện tổng cộng 199 chuyến bay, và được sản xuất bởi North American Aviation. Chiếc X-15-1, số hiệu 56-6670, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Hàng không và Vũ trụ Quốc gia, Washington DC. Chiếc North American X-15A-2, số hiệu 56-6671, hiện đang ở Bảo tàng Không quân Hoa Kỳ, Căn cứ Không quân Wright-Patterson, Ohio. Chiếc X-15-3, số hiệu 56-6672, đã gặp nạn vào ngày 15 tháng 11 năm 1967, dẫn đến cái chết của Thiếu tá Michael J. Adams.



24/10/1967 – phi công nghiên cứu của NASA, Bill Dana, đứng cạnh máy bay siêu thanh North American X-15, động cơ tên lửa
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Tính năng của máy bay tên lửa X-15
X-15 Rocket-plane (3).jpg

X-15 – máy bay động cơ tên lửa chỉ sản xuất 3 chiếc
Để rèn luyện phi hành gia, NASA đặt North America sản xuất 3 chiếc máy bay X-15 để thực nghiệm độ cao và tốc độ cao
Kíp lái: Một
Chiều dài: 14,99 m
Sải cánh: 6,81 m
Cao: 3,99 m
Tự trọng: 6.622 kg
Tổng trọng lượng khi bay: 15.195 kg
Động cơ: một động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng, lực đẩy 313 kN
Tốc độ tối đa: 7.270 km/h, 2,2 km/s
Tầm bay 450 km
Trần bay tối đa 108 km
Bản thân máy bay này không cất cánh được từ mặt đất. Nó được treo dưới bụng B-52, đến độ cao 10 km tách khỏi máy bay mẹ và vao vào tầng bình lưu
NASA phải đặt riêng hai chiếc B-52 chuyên để làm việc này

X-15 Rocket-plane (8).jpg
X-15 Rocket-plane (11).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
X-15 Rocket-plane (13).jpg
X-15 Rocket-plane (20).jpg

Chiếc X-15 số 2 (56-6671) phóng đi từ máy bay mẹ B-52 với động cơ tên lửa đã được kích hoạt. Các mảng trắng gần giữa thân máy bay là lớp băng giá từ oxy lỏng được sử dụng trong hệ thống đẩy, mặc dù nitơ lỏng rất lạnh cũng được sử dụng để làm mát khoang chứa hàng, buồng lái, kính chắn gió và các thiết bị khác.
X-15 Rocket-plane (21).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
15/11/1967 – Các kỹ thuật viên của NASA kiểm tra mảnh vỡ của chiếc máy bay chạy bằng tên lửa X-15 gần Căn cứ Không quân Edwards ở California Phi công, Thiếu tá Michael J Adams, đã thiệt mạng trong vụ tai nạn.
X-15 Rocket-plane (27).jpg
X-15 Rocket-plane (28).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Apollo 4 được NASA phóng lên ngày 9/11/1967 là chuyến bay không người lái nhằm thử nghiệm tên lửa Saturn V với tàu Apollo. Apollo 4 bay 3 vòng quanh quỹ đạo trái đất, kéo dài 8 giờ, 36 phủt, 59 giây và hạ cánh xuống Đại Tây Dương
Tên lửa đẩy Saturn V
Cao 111 m
Đường kính 10 m
Khối lượng 3,038,5 tấn
Số tầng 3
Khối lượng mang lên quỹ đạo thấp của Trái Đất 118 tấn (tầng 3) hoặc 75 tấn (tầng 2)
Khối lượng mang lên mặt trăng 47 tấn
Space 1967_11_9 (2).jpg
Space 1967_11_9 (3).jpg

Space 1967_11_9 (12).jpg

9/11/1967 – các động cơ J2 của tầng thứ hai tiếp tục hoạt động khi tầng giữa phía sau bị tụt lại phía sau trong sứ mệnh Apollo 4 không người lái
Space 1967_11_9 (13).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Space 1968_3_6 (1).jpg

6/3/1968 – Neil Armstrong, người sau này chỉ huy chuyến bay Apollo 11, thoát hiểm trong một tai nạn khi tập luyện
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Apollo 5
Space 1968_1_22 (1).jpg

22/1/1968 – Sứ mệnh không người lái Apollo 5 (LM-1/Saturn 204) được phóng từ Tổ hợp phóng 37 của Trung tâm Vũ trụ Kennedy lúc 5:48:09 chiều (EST), ngày 22 tháng 1 năm 1968. Mô-đun hạ cánh Mặt Trăng số 1 (LM-1) được đưa vào quỹ đạo Trái đất bằng một phương tiện phóng gồm tầng đẩy đầu tiên Saturn IB và tầng đẩy thứ hai Saturn S-IVB. Chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của mô-đun hạ cánh Mặt Trăng Apollo được đánh giá là thành công hoàn toàn. Hệ thống đẩy lên và xuống cũng như khả năng hủy bỏ cuộc đổ bộ lên Mặt Trăng và quay trở lại quỹ đạo đã được chứng minh.
Space 1968_1_22 (4).jpg

11/1967 - Module hạ cánh hạ cánh Mặt Trăng số 1 (LM-1) nặng 14,4 tấn đang được di chuyển vào vị trí để ghép nối với Bộ chuyển đổi module hạ cánh Mặt Trăng (SLA)-7 tại Tòa nhà Vận hành Tàu vũ trụ có người lái của Trung tâm Vũ trụ Kennedy. LM-1 và SLA-7 dự kiến sẽ được đưa lên không gian trong sứ mệnh không người lái Apollo 5 (LM-1/Saturn 204).

Apollo 5 (phóng ngày 22/01/1968, còn gọi là AS-204) là chuyến bay thử nghiệm không người lái quan trọng đầu tiên của Module Mặt Trăng (Lunar Module - LM) trong chương trình Apollo. Sứ mệnh thành công trong việc kiểm tra các hệ thống đẩy, khởi động động cơ trên quỹ đạo Trái Đất, đảm bảo sẵn sàng cho nhiệm vụ đưa phi hành gia lên Mặt Trăng.
Space 1968_1_22 (5).jpg

Tên lửa đẩy Saturn IB của Apollo 5 trên bệ phóng
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Chuyến bay Apollo 6
Space 1968_4_4 (5).jpg

Apollo 6 được NASA phóng lên ngày 4/4/1968 là chuyến bay không người lái nhằm thử nghiệm tên lửa Saturn V với tàu Apollo.
Space 1968_4_4 (4).jpg

Space 1968_4_4 (6)a.jpg
Space 1968_4_4 (7).jpg

Tầng đầu tiên S-IC tách khỏi tầng hai S-II chuyến bay Apollo 6. Khi tầng đầu tiên tách ra, tầu Apollo 6 và hai tầng còn lại ở độ cao khoảng 60 km, dưới vận tốc quỹ đạo. Tầng đầu tiên rơi vào bầu khí quyển và hạ bằng dù xuống đại dương nơi chúng trôi nổi chờ được vớt
Space 1968_4_4 (9)_.jpg

Bức ảnh này được chụp trong vụ phóng tàu Apollo 6 không người lái, phần nối giữa hai tầng của tên lửa Satrun V tách rời (ngày 4 tháng 4 năm 1968).
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Space 1968_4_4 (13).jpg

4/4/1968 – Tàu vũ trụ Apollo VI đã hạ cánh xuống Thái Bình Dương, cách Hawaii khoảng 370 dặm về phía bắc, sau chuyến bay kéo dài 9 giờ 56 phút. Các chuyên gia người nhái đã nhảy dù từ trực thăng và gắn một vòng phao nổi vào tàu vũ trụ Apollo VI. Sau đó, tàu vũ trụ được nâng lên tàu cứu hộ USS Okinawa (LPH-3).
Space 1968_4_4 (14).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Space 1968_5_6 (1).jpg

NASA chế tạo con tàu động cơ phản lực trị giá 2,5 triệu USD,để huấn luyện đổ bộ xuống mặt trăng.
Ngày 6 tháng 5 năm 1968, trong lúc luyện tập, tàu gặp tai nạn, phi hành gia Neil Armstrong đã nhảy dù an toàn khỏi tàu huấn luyện ngay trước khi nó bị rơi và bốc cháy tại Căn cứ Không quân Ellington gần trung tâm vũ trụ.
Lúc ông phóng ra nhảy dù cách mặt đất 65 mét,
Năm 1966, Neil Armstrong đã lái tàu Gemini 8 hạ cánh khẩn cấp an toàn xuống Thái Bình Dương.
Space 1968_5_6 (2).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Chuyến bay Apollo 7
Space 1968_10_11 (1) Apollo 7.png


Trước chuyến bay Apollo 11 đổ bộ Mặt trăng, thực tế chỉ có 4 chuyến bay tập dượt Apollo 7, 8, 9 và 10
1. Apollo 7 là chuyến bay có người đầu tiên của Apollo, nhằm thử nghiệm tàu có người lái. Apollo 7 không mang theo Module Mặt trăng LM, và chỉ bay quanh quỹ đạo trái đất, do vậy NASA sử dụng tên lửa Saturn IB. Saturn IB chỉ có 2 tầng: tầng phóng (booster) và tầng Saturn IV-B. Saturn IV-B để duy trì Apollo 7 bay trong quỹ đạo trái đất, và sẽ được tách ra khỏi Module Chỉ huy CM trước khi CM trở về trái đất. Saturn IV-B sẽ tự bay một số vòng nữa và sẽ rơi và cháy trong khí quyển
2. Apollo 8 là chuyến bay có người của Apollo, sẽ bay quanh mặt trăng hai vòng. nhằm thử nghiệm khả năng bay tới mặt trăng
Apollo 8 không mang theo Module Mặt trăng LM, và trở thành tàu không gian đầu tiên chở người bay quanh mặt trăng
Vì bay lên Mặt trăng, từ đây NASA sử dụng tên lửa Saturn V. Là tên lửa toàn phần, Saturn V chỉ có 3 tầng: tầng phóng (booster) và tầng 2 để vượt khỏi sức hút trái đất và tầng 3 Saturn IV-B.
Saturn IV-B sẽ được tách ra khỏi Module Chỉ huy CM trước khi CM trở về trái đất. Saturn IV-B sẽ tự bay một số vòng nữa và sẽ rơi và cháy trong khí quyển
3. Apollo 9 mang theo Module Mặt trăng LM, nhưng không đổ bộ xuống Mặt trăng. Apollo 9 sẽ triển khai LM cách Mặt trăng chừng 100 dặm, LM (có hai phi hành gia bên trong) sẽ triển khai hạ cánh (nhưng không hạ cánh) sau đó LM quay về và lắp ghép với Module CSM, và huớng về trái đất
Sau khi ba phi hành gia an toàn trong Module CSM, LM tách ra trở thành vệ tinh của Mặt trăng và sau một thời gian sẽ rơi xuống Mặt trăng
4. Apollo 10 mang theo Module Mặt trăng LM. Tương tự như Apollo 9, chỉ khác là Module LM bay sát Mặt trăng ở độ cao thấp để khảo sát kỹ bãi đáp cho Apollo 11 sắp tới
Sau 4 chuyến bay này, NASA tự tin con người có thể đặt chân lên Mặt trăng

Apollo 7
Phóng ngày October 11, 1968, 15:02:45 UTC
Hạ cánh: October 22, 1968, 11:11:48 UTC
Thời gian hoạt động: 10 days, 20 hours, 9 minutes, 3 seconds
Quanh quỹ đạo 163 vòng
Khối lượng phóng 16,519 kg
Khối lượng hạ cánh: 5,175
Phi hành đoàn (3 người) Walter M. Schirra, Donn F. Eisele (chỉ huy), R. Walter Cunningham
Tên lửa Saturn IB SA-205
Space 1968_10_11 (3).jpg

Ngày 11/10/1968, NASA phóng Apollo 7 lên Quỹ đạo trái đất (chứ không bay đến Mặt trăng) do vậy chỉ cần sử dụng tên lửa đẩy hai tầng Saturn IB SA-205
Phóng ngày 11/10/1968
Hạ cánh: 22/10/1968
Thời gian hoạt động: 10 ngày, 20 giờ, 9 phút, 3 giây
Quanh quỹ đạo 163 vòng
Khối lượng phóng 16,519 kg
Khối lượng hạ cánh: 5,175
Phi hành đoàn (3 người) Walter M. Schirra, Donn F. Eisele (chỉ huy), R. Walter Cunningham
Apollo 7 không mang theo Module Mặt trăng LM
Apollo 7's Saturn IB, SA-205, at Launch Complex 34
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Space 1968_10_11 (4).jpg
Space 1968_10_11 (6).jpg

Space 1968_10_11 (5).jpg

Phi hành đoàn Apollo 7: Walter M. Schirra Jr., Donn F. Eisele, và Walter Cunningham
Space 1968_10_11 (7).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Tên lửa đẩy cho Apollo là tên lửa đẩy hai tầng Saturn IB: tầng 1 là tầng phóng (booster) và tầng hai là Saturn IV-B. Saturn IV-B để duy trì Apollo 7 bay trong quỹ đạo trái đất
Saturn IV-B có phần trên là bốn tấm của Bộ điều hợp Module Mặt trăng, nó có nhiệm vụ che chở cho Module Mặt trăng khi phóng. Khi tách khởi Module Chỉ huy bốn tấm của Bộ điều hợp sẽ mở tung ra, sau đó Module Mặt trăng LM sẽ tách ra khỏi tên lửa Saturn IV-B để bay về phía Mặt trăng. Còn tên lửa Saturn IV-B sẽ bay theo quán tính một thời gian, rồi rơi xuống Mặt trăng
Trong trường hợp Apollo 7 thử nghiệm ở quỹ đạo trái đất, Saturn IV-B không mang Modele Mặt trăng, do vậy nó sẽ rơi vào khí quyển trái đất và bốc cháy
Space 1968_10_11 (12).jpg
Space 1968_10_11 (13).jpg
Space 1968_10_11 (14).jpg
Space 1968_10_11 (15).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Space 1968_10_11 (17).jpg
Space 1968_10_11 (18).jpg
Space 1968_10_11 (19).jpg
Space 1968_10_11 (20).jpg
 

Ngao5

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-44803
Ngày cấp bằng
28/8/09
Số km
61,682
Động cơ
1,253,044 Mã lực
Chuyến bay Apollo 8
Space 1968_12_21 (1) Apollo 8.jpg

Tên lửa Saturn V phóng lên từ Trung tâm Vũ trụ Kennedy, mang theo phi hành đoàn Apollo 8 gồm các nhà du hành vũ trụ của NASA, Chỉ huy Frank Borman, phi công Module Mặt Trăng William Anders và phi công Module Chỉ huy James Lovell, trong chuyến hành trình vào không gian để bay quanh Mặt Trăng vào ngày 21 tháng 12 năm 1968. Phi hành đoàn Apollo 8 sẽ ở trong không gian sáu ngày và trở về Trái đất vào ngày 27 tháng 12 năm 1968
Space 1968_12_21 (2).jpg
 
Thông tin thớt
Đang tải

Bài viết mới

Top