BE 4: có 7 động cơ độc lập, đường kính cánh quạt turbine lớn hơn nhiều so với Raptor (có thể gấp đôi), vòng quay khoảng 19000rpm, trục nén đơn, đốt nhien liệu mồi dư O2, sau đó phun O2 nóng (dưới 500 độ C) vào buồng cùng CH4 (ko đc làm nóng) và cháy tạo áp vừa phải hơn nên hiệu suất yếu hơn
Raptor: 33 động cơ, , đường kính cánh quạt tầm không quá 250mm, vòng quay tối đa 45000rpm, tăng áp kép, có hai hệ thống nén và đốt mồi riêng, một cái dư o2, một cái dư CH4, sau đó phun khí nóng vào buồng đốt và do đó cháy tức thì toàn bọ tạo áp cực lớn nên hiệu suất rất cao.
Cơ chế bảo vệ:
BE4: không dùng vòng bi, chỉ dùng áp lực khí hoá lỏng chưa bay hơi làm màng ngăn tránh ma sát trục, họ dùng khí O2 lỏng một đầu, khí CH4 một đầu, để tránh hai khí này trộn vào nhau họ bơm heli áp siêu cao ở giữa để ngăn cách. Trục sẽ quay giữa vòng đệm lỏng, ko cần bảo dưỡng, ko có mài mòn.
Be4 đúc cánh đủ lớn để chịu tải và tản nhiệt tự thân kim loại trong vài phút khi phóng, cos thể bọc màng gốm chống ô xy hoá do o2 nguyên chất ở nhiệt cao do pha đốt mồi dư o2 (có thể ô xy hoá mãnh liệt đa số hợp kim)
Raptor: dùng vòng bi với bi gốm siêu chịu lực vòng đỡ là kl đặc chế, bôi trơn bởi hạt siêu vi, có trích khí qua ổ quay bi chỉ làm mát và tạo đệm không khí cho bi gốm, chịu tốc độ cực cao, phải bảo dưỡng sau một số lần phóng nhất định.
Raptor có đường kính cánh quạt nhỏ, đúc liền một khối bằng bột kim loại sau đó tinh thể hoá tức khiến toàn bộ hệ thống trục (ngắn) và cánh ko có điểm yếu vật lý để chịu lực ly tâm lớn của vòng quay mà ko bị phá huỷ, sau đó hàn với trục bằng ma sát tạo khối khá đồng nhất, các lỗ siêu nhỏ trên cánh tạo ra khi đúc 3d hút một phần khí lỏng từ trục bởi các vòng đệm gốm siêu khít và lực ly tâm khiến khí thoát ra tạo lớp màng cách nhiệt một phần cho cánh quạt, cũng có được bọc bởi hơi gốm.
Việc làm hai động cơ tăng áp nối trục bơm riêng là bài toán an toàn đắt giá của SX, nó phải giải quyết một loạt vấn đề cơ lý hoá để tăng áp buồng đốt lên trên 300bar mà vẫn đảm bảo độ an toàn cơ lý hoá vật liệu và, có thể tái sử dụng nhiều lần.
Be4 dùng giải pháp đột phá là dùng dòng khí lỏng (tuyệt đối) thay thế vòng bi, chỉ một hệ thống tăng áp lớn với trục dài bơm nhiên liệu có thể chịu lực vặn xoắn rất lớn mà ko có độ rung ở vòng tua 19000rpm, nhưng họ có điểm yếu chí tử là chỉ cần một chút dòng chảy chất lỏng hoá hơi, hay khí heli ko đủ áp ngăn o2 và methane thì hậu quả rất thảm khốc cho trục và bạc...
Dùng cánh kl lớn hơn để có thể tự tản nhiệt khiến gia tốc đầu cánh rất lớn, có thể tới 80.000G, trong khi nhiệt cao có thể làm giãn nở trong một thời gian ngắn gây vỡ động cơ (khoảng cách rất nhỏ tầm /10mm)
Be4 để O2 nặng hơn phía trên và raptor thì ngược lại cũng tạo nên một khả năng khí O2 có thể bị hoá hơi khi xuyên tâm qua methane dù cách nhiệt gần như tuyệt đối đường ống này. Hiện tượng này gây mất dòng chảy bảo vệ trục tăng áp...
Raptor: 33 động cơ, , đường kính cánh quạt tầm không quá 250mm, vòng quay tối đa 45000rpm, tăng áp kép, có hai hệ thống nén và đốt mồi riêng, một cái dư o2, một cái dư CH4, sau đó phun khí nóng vào buồng đốt và do đó cháy tức thì toàn bọ tạo áp cực lớn nên hiệu suất rất cao.
Cơ chế bảo vệ:
BE4: không dùng vòng bi, chỉ dùng áp lực khí hoá lỏng chưa bay hơi làm màng ngăn tránh ma sát trục, họ dùng khí O2 lỏng một đầu, khí CH4 một đầu, để tránh hai khí này trộn vào nhau họ bơm heli áp siêu cao ở giữa để ngăn cách. Trục sẽ quay giữa vòng đệm lỏng, ko cần bảo dưỡng, ko có mài mòn.
Be4 đúc cánh đủ lớn để chịu tải và tản nhiệt tự thân kim loại trong vài phút khi phóng, cos thể bọc màng gốm chống ô xy hoá do o2 nguyên chất ở nhiệt cao do pha đốt mồi dư o2 (có thể ô xy hoá mãnh liệt đa số hợp kim)
Raptor: dùng vòng bi với bi gốm siêu chịu lực vòng đỡ là kl đặc chế, bôi trơn bởi hạt siêu vi, có trích khí qua ổ quay bi chỉ làm mát và tạo đệm không khí cho bi gốm, chịu tốc độ cực cao, phải bảo dưỡng sau một số lần phóng nhất định.
Raptor có đường kính cánh quạt nhỏ, đúc liền một khối bằng bột kim loại sau đó tinh thể hoá tức khiến toàn bộ hệ thống trục (ngắn) và cánh ko có điểm yếu vật lý để chịu lực ly tâm lớn của vòng quay mà ko bị phá huỷ, sau đó hàn với trục bằng ma sát tạo khối khá đồng nhất, các lỗ siêu nhỏ trên cánh tạo ra khi đúc 3d hút một phần khí lỏng từ trục bởi các vòng đệm gốm siêu khít và lực ly tâm khiến khí thoát ra tạo lớp màng cách nhiệt một phần cho cánh quạt, cũng có được bọc bởi hơi gốm.
Việc làm hai động cơ tăng áp nối trục bơm riêng là bài toán an toàn đắt giá của SX, nó phải giải quyết một loạt vấn đề cơ lý hoá để tăng áp buồng đốt lên trên 300bar mà vẫn đảm bảo độ an toàn cơ lý hoá vật liệu và, có thể tái sử dụng nhiều lần.
Be4 dùng giải pháp đột phá là dùng dòng khí lỏng (tuyệt đối) thay thế vòng bi, chỉ một hệ thống tăng áp lớn với trục dài bơm nhiên liệu có thể chịu lực vặn xoắn rất lớn mà ko có độ rung ở vòng tua 19000rpm, nhưng họ có điểm yếu chí tử là chỉ cần một chút dòng chảy chất lỏng hoá hơi, hay khí heli ko đủ áp ngăn o2 và methane thì hậu quả rất thảm khốc cho trục và bạc...
Dùng cánh kl lớn hơn để có thể tự tản nhiệt khiến gia tốc đầu cánh rất lớn, có thể tới 80.000G, trong khi nhiệt cao có thể làm giãn nở trong một thời gian ngắn gây vỡ động cơ (khoảng cách rất nhỏ tầm /10mm)
Be4 để O2 nặng hơn phía trên và raptor thì ngược lại cũng tạo nên một khả năng khí O2 có thể bị hoá hơi khi xuyên tâm qua methane dù cách nhiệt gần như tuyệt đối đường ống này. Hiện tượng này gây mất dòng chảy bảo vệ trục tăng áp...
