[Funland] Tiện bút của Cao Việt Dũng: Trai Hà Nội như thế nào?

Garrard_1967

Xe điện
Biển số
OF-844852
Ngày cấp bằng
11/12/23
Số km
2,421
Động cơ
1,086,323 Mã lực
Ơ hay, thế nạn nhân lại thành tội nhân ??
tag sai mà ngta cười hi hi đc?
Mai về phố ăn phở đê anh Mít. Em chán đi làm ồi
Bt ra chỉ đạo gộp giờ nghỉ, ngày nghỉ ọp phơ thành 3 ngày nghỉ liên tiếp. Hem chém gió nhưng chã vẫn trả đủ lương, thưởng đi. Chậc, ngày của ọp!
 

sắt con

Xe container
Biển số
OF-203221
Ngày cấp bằng
23/7/13
Số km
6,998
Động cơ
754,835 Mã lực
Khi hát lên tiếng ca gửi về người yêu quê ta
Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba
Em ơi nghe chăng lời trái tim vọng ra
Rung trong không gian mặt biển sôi ầm vang
Qua núi biếc trập trùng xa xa
Qua bóng mây che mờ quê ta
Tiếng ca đời đời chung thuỷ thiết tha
Em có nghe tiếng ca chứa đựng hận thù sâu xa
Đã biến tình đôi ta thành những cánh sao toả sáng
Vượt băng băng qua đêm tối tìm hương hoa
Bến nước Cửu Long còn đó em ơi
Biển lúa nương dâu còn mãi muôn đời
Là còn duyên tình ta với bao tiếng ca
Không thể xoá nhoà
Khi đã nghe tiếng ca của lòng người yêu phương xa
Em hãy ngước mắt lên vui nhìn trời xanh quê ta
Chim giăng giăng bay ngoài nắng xuân đẹp thay
Tan cơn phong ba lòng đất yên rồi đây
Em hãy nở nụ cười tươi xinh
Như đoá hoa xuân chào riêng anh
Nói nhau nghìn lời qua đôi mắt xanh
Ta hát chung tiếng ca vang dội từ nghìn phương xa
Xua kẻ thù đi mau dập tắt chiến tranh đẫm máu
Đập tan ngay bao đau khổ và chia ly
Giữ lấy đức tin bền vững em ơi
Giữ lấy trái tim đòi sống yêu đời
Làm một bài tình ca của đôi lứa ta dâng cả bao người

Chúng cháu nợ các bậc cha ông nhiều lắm!
Hay thế anh. 😮😮😮😮
🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳
 
  • Vodka
Reactions: XPQ

sắt con

Xe container
Biển số
OF-203221
Ngày cấp bằng
23/7/13
Số km
6,998
Động cơ
754,835 Mã lực
Bt ra chỉ đạo gộp giờ nghỉ, ngày nghỉ ọp phơ thành 3 ngày nghỉ liên tiếp. Hem chém gió nhưng chã vẫn trả đủ lương, thưởng đi. Chậc, ngày của ọp!
Giờ nguyện vọng của em là các sếp phát cho các thành viên thêm vodke , chứ quá nhiều nội dung hay, truyền cảm mà ko…bầy tỏ được..

IMG_4047.jpeg
 
Chỉnh sửa cuối:

Garrard_1967

Xe điện
Biển số
OF-844852
Ngày cấp bằng
11/12/23
Số km
2,421
Động cơ
1,086,323 Mã lực
Ngày xưa, có kì tài họ Bùi, tên chữ là Công, tự là Chức buicongchuc ngàn năm có 1, xuất hiện tại nhân thế trần ai, nhiều hỗn loạn này. Thư sinh họ Bùi, sau thời gian nghiền ngẫm, nhận ra rằng, mọi bi ai đều xuất phát từ sự đố kỵ, vốn là 1 trong 7 thói hư của con người. Tu luyện trên núi cao, tịch mịch, chỉ có trời, đất & họ Bùi, 10 năm sau, thư sinh tạo ra những tuyệt phẩm mà không cần bất kỳ phòng R&D, công nghệ lượng tử hay kính viễn vọng Húp bờ nào hỗ trợ cả.

Những tuyệt phẩm của họ Bùi, khi giáng đúng vào nơi hỗn loạn nhất, được gọi là quán Cà, bèn lập tức trở thành báu vật có 1 không 2. Thứ báu vật này không dành cho bất kỳ nhân sĩ nào, mà nó biến toàn bộ 7 thói hư tật xấu, hỉ, nộ, ố, ái, ứ, ừ ở quán Cà biến mất. Thật ra không phải biến mất, mà chúng dung hợp lại, cổ nhân có câu "Quá mù ra mưa", thành đức tính tốt, lan toả vào tận tâm can của mỗi nhân sĩ quán Cà. Ở đâu có hoạ phẩm của thư sinh họ Bùi, ở đó chỉ có sự say mê, niềm tin và sự đồng cảm không nói nên lời với nhau.

Nhân gian dần trôi qua những tháng ngày hạnh phúc ấy, không còn tím, không còn xanh, đỏ, đen, không phân biệt tuổi tác, giới tính, vị thế, tất cả hoà chung niềm nhân từ bác ái với nhau.

Rồi 1 ngày, các trưởng lão cai quản cả vùng Ô phở, nơi quán Cà vốn chỉ là 1 thị trấn nhỏ xinh lọt thỏm trong đó, cũng nhận ra sự bình yên đến kinh ngạc ở đây. Các trưởng lão, thái trưởng lão, thái thượng trưởng lão, các lão tổ tông cũng dừng bước an nhiên, mặc định coi đây là vùng đất thần thoại.

Thế rồi, vài trưởng lão trong số đó nhận ra, nếu sự bình yên này kéo dài vô tận, thì lấy đâu ra sự cạnh tranh? Không có cạnh tranh, không có sản xuất, không có sản xuất, không có thành quả ...

Và rồi, thư sinh họ Bùi bị triệu hoán, tại hội đồng các trưởng lão ra phán quyết "Hoặc không được mê hoặc nhân sĩ bằng những tuyệt tác đó nữa, hoặc bị trục xuất vĩnh viễn". Họ Bùi uất ức, trong lòng cảm thấy cô quạnh bởi không ai hiểu được nỗi khổ tâm của chàng. Chàng liền phóng tác cố tình làm xấu đi những tuyệt tác của mình. Hỡi ôi, thiên tài có 1, cho dù cố gắng tới mấy, hoạ phẩm của họ Bùi không những không xấu đi mà lại còn rực rỡ hơn, không còn màu hoa, không còn máu lá, chỉ có màu da, ấy nhưng chúng vẫn đẹp tuyệt trần.

Các trưởng lão tức lắm, bèn thu hồi toàn bộ các tác phẩm diệu kỳ ấy, cho vào thư viện cất kỹ, nhân sĩ cấm tuyệt đối bước chân nếu không có sự đồng ý của hội đồng trưởng lão.

Từ đó tới nay, họ Bùi tuyệt tích, chỉ thỉnh thoảng xuất hiện trở lại với mặt tối của nhân gian, Đoành bóng đêm Trần Đoành. , khi 2 người cùng nhảy lên nóc nhà bắt con gà sống thiến.
 

sắt con

Xe container
Biển số
OF-203221
Ngày cấp bằng
23/7/13
Số km
6,998
Động cơ
754,835 Mã lực
Ngày xưa, có kì tài họ Bùi, tên chữ là Công, tự là Chức buicongchuc ngàn năm có 1, xuất hiện tại nhân thế trần ai, nhiều hỗn loạn này. Thư sinh họ Bùi, sau thời gian nghiền ngẫm, nhận ra rằng, mọi bi ai đều xuất phát từ sự đố kỵ, vốn là 1 trong 7 thói hư của con người. Tu luyện trên núi cao, tịch mịch, chỉ có trời, đất & họ Bùi, 10 năm sau, thư sinh tạo ra những tuyệt phẩm mà không cần bất kỳ phòng R&D, công nghệ lượng tử hay kính viễn vọng Húp bờ nào hỗ trợ cả.

Những tuyệt phẩm của họ Bùi, khi giáng đúng vào nơi hỗn loạn nhất, được gọi là quán Cà, bèn lập tức trở thành báu vật có 1 không 2. Thứ báu vật này không dành cho bất kỳ nhân sĩ nào, mà nó biến toàn bộ 7 thói hư tật xấu, hỉ, nộ, ố, ái, ứ, ừ ở quán Cà biến mất. Thật ra không phải biến mất, mà chúng dung hợp lại, cổ nhân có câu "Quá mù ra mưa", thành đức tính tốt, lan toả vào tận tâm can của mỗi nhân sĩ quán Cà. Ở đâu có hoạ phẩm của thư sinh họ Bùi, ở đó chỉ có sự say mê, niềm tin và sự đồng cảm không nói nên lời với nhau.

Nhân gian dần trôi qua những tháng ngày hạnh phúc ấy, không còn tím, không còn xanh, đỏ, đen, không phân biệt tuổi tác, giới tính, vị thế, tất cả hoà chung niềm nhân từ bác ái với nhau.

Rồi 1 ngày, các trưởng lão cai quản cả vùng Ô phở, nơi quán Cà vốn chỉ là 1 thị trấn nhỏ xinh lọt thỏm trong đó, cũng nhận ra sự bình yên đến kinh ngạc ở đây. Các trưởng lão, thái trưởng lão, thái thượng trưởng lão, các lão tổ tông cũng dừng bước an nhiên, mặc định coi đây là vùng đất thần thoại.

Thế rồi, vài trưởng lão trong số đó nhận ra, nếu sự bình yên này kéo dài vô tận, thì lấy đâu ra sự cạnh tranh? Không có cạnh tranh, không có sản xuất, không có sản xuất, không có thành quả ...

Và rồi, thư sinh họ Bùi bị triệu hoán, tại hội đồng các trưởng lão ra phán quyết "Hoặc không được mê hoặc nhân sĩ bằng những tuyệt tác đó nữa, hoặc bị trục xuất vĩnh viễn". Họ Bùi uất ức, trong lòng cảm thấy cô quạnh bởi không ai hiểu được nỗi khổ tâm của chàng. Chàng liền phóng tác cố tình làm xấu đi những tuyệt tác của mình. Hỡi ôi, thiên tài có 1, cho dù cố gắng tới mấy, hoạ phẩm của họ Bùi không những không xấu đi mà lại còn rực rỡ hơn, không còn màu hoa, không còn máu lá, chỉ có màu da, ấy nhưng chúng vẫn đẹp tuyệt trần.

Các trưởng lão tức lắm, bèn thu hồi toàn bộ các tác phẩm diệu kỳ ấy, cho vào thư viện cất kỹ, nhân sĩ cấm tuyệt đối bước chân nếu không có sự đồng ý của hội đồng trưởng lão.

Từ đó tới nay, họ Bùi tuyệt tích, chỉ thỉnh thoảng xuất hiện trở lại với mặt tối của nhân gian, Đoành bóng đêm Trần Đoành. , khi 2 người cùng nhảy lên nóc nhà bắt con gà sống thiến.
Em xin nhấn mạnh, giờ này chỉ còn mỗi em đọc bài của cụ anh thôi đấy nhá. Các cụ kia rửa chân, vào việc hết ồi. Nay đêm chủ nhật đấy ạ!
 

Garrard_1967

Xe điện
Biển số
OF-844852
Ngày cấp bằng
11/12/23
Số km
2,421
Động cơ
1,086,323 Mã lực
Em xin nhấn mạnh, giờ này chỉ còn mỗi em đọc bài của cụ anh thôi đấy nhá. Các cụ kia rửa chân, vào việc hết ồi. Nay đêm chủ nhật đấy ạ!
Càng tốt chứ bt ơi, sáng mai các cụ ấy ngồi nhâm nhi cafe, lướt ọp trước khi vào họp giao ban.
E đang hình dung, giữa cuộc họp, các bố ấy tự dưng lại cười nắc nẻ rớt cả hàm răng giả ... hô hô!!!
 

Mưa!

Xe điện
Biển số
OF-319947
Ngày cấp bằng
16/5/14
Số km
3,484
Động cơ
309,199 Mã lực

Mưa!

Xe điện
Biển số
OF-319947
Ngày cấp bằng
16/5/14
Số km
3,484
Động cơ
309,199 Mã lực
Ngày xưa, có kì tài họ Bùi, tên chữ là Công, tự là Chức buicongchuc ngàn năm có 1, xuất hiện tại nhân thế trần ai, nhiều hỗn loạn này. Thư sinh họ Bùi, sau thời gian nghiền ngẫm, nhận ra rằng, mọi bi ai đều xuất phát từ sự đố kỵ, vốn là 1 trong 7 thói hư của con người. Tu luyện trên núi cao, tịch mịch, chỉ có trời, đất & họ Bùi, 10 năm sau, thư sinh tạo ra những tuyệt phẩm mà không cần bất kỳ phòng R&D, công nghệ lượng tử hay kính viễn vọng Húp bờ nào hỗ trợ cả.

Những tuyệt phẩm của họ Bùi, khi giáng đúng vào nơi hỗn loạn nhất, được gọi là quán Cà, bèn lập tức trở thành báu vật có 1 không 2. Thứ báu vật này không dành cho bất kỳ nhân sĩ nào, mà nó biến toàn bộ 7 thói hư tật xấu, hỉ, nộ, ố, ái, ứ, ừ ở quán Cà biến mất. Thật ra không phải biến mất, mà chúng dung hợp lại, cổ nhân có câu "Quá mù ra mưa", thành đức tính tốt, lan toả vào tận tâm can của mỗi nhân sĩ quán Cà. Ở đâu có hoạ phẩm của thư sinh họ Bùi, ở đó chỉ có sự say mê, niềm tin và sự đồng cảm không nói nên lời với nhau.

Nhân gian dần trôi qua những tháng ngày hạnh phúc ấy, không còn tím, không còn xanh, đỏ, đen, không phân biệt tuổi tác, giới tính, vị thế, tất cả hoà chung niềm nhân từ bác ái với nhau.

Rồi 1 ngày, các trưởng lão cai quản cả vùng Ô phở, nơi quán Cà vốn chỉ là 1 thị trấn nhỏ xinh lọt thỏm trong đó, cũng nhận ra sự bình yên đến kinh ngạc ở đây. Các trưởng lão, thái trưởng lão, thái thượng trưởng lão, các lão tổ tông cũng dừng bước an nhiên, mặc định coi đây là vùng đất thần thoại.

Thế rồi, vài trưởng lão trong số đó nhận ra, nếu sự bình yên này kéo dài vô tận, thì lấy đâu ra sự cạnh tranh? Không có cạnh tranh, không có sản xuất, không có sản xuất, không có thành quả ...

Và rồi, thư sinh họ Bùi bị triệu hoán, tại hội đồng các trưởng lão ra phán quyết "Hoặc không được mê hoặc nhân sĩ bằng những tuyệt tác đó nữa, hoặc bị trục xuất vĩnh viễn". Họ Bùi uất ức, trong lòng cảm thấy cô quạnh bởi không ai hiểu được nỗi khổ tâm của chàng. Chàng liền phóng tác cố tình làm xấu đi những tuyệt tác của mình. Hỡi ôi, thiên tài có 1, cho dù cố gắng tới mấy, hoạ phẩm của họ Bùi không những không xấu đi mà lại còn rực rỡ hơn, không còn màu hoa, không còn máu lá, chỉ có màu da, ấy nhưng chúng vẫn đẹp tuyệt trần.

Các trưởng lão tức lắm, bèn thu hồi toàn bộ các tác phẩm diệu kỳ ấy, cho vào thư viện cất kỹ, nhân sĩ cấm tuyệt đối bước chân nếu không có sự đồng ý của hội đồng trưởng lão.

Từ đó tới nay, họ Bùi tuyệt tích, chỉ thỉnh thoảng xuất hiện trở lại với mặt tối của nhân gian, Đoành bóng đêm Trần Đoành. , khi 2 người cùng nhảy lên nóc nhà bắt con gà sống thiến.
Đọc xong, em tự cù néc mình mãi rồi cười từ đó tới giờ đây :))
 

DurexXL

Xe cút kít
Biển số
OF-495573
Ngày cấp bằng
7/3/17
Số km
16,811
Động cơ
1,139,161 Mã lực
Nơi ở
Đỉnh Vu Sơn
IMG_4915.jpeg


bt đoán coi, năm đó là năm nhiu?
Con 4b trong ảnh form này là Toy Cressida 1990-1992 (bắt đầu bo tròn)

Trong ảnh chưa thấy cái cub 82 hay Dream nào, mà ở lõi văn minh và giàu có của Hà Nội khi đó, như vậy, không thể là từ 1993 trở về sau
Tương tự, nếu từ 1993 về sau, xe đạp mới của Tàu đã phổ biến hơn, trong ảnh toàn xe cũ (dù là Favourit, Mifa ...)

Vậy chặn khung thời gian ảnh này khoảng 1990-1992, khả năng cao là 1991
 

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
24,023
Động cơ
17,938,605 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Philippe Papin sinh 1967, cựu sinh viên khoa Sử trường Đại học Sư phạm Saint-Cloud, từng là thành viên Viện Viễn Đông Bác cổ, sống ở Hà Nội từ 1991-2004. Hiện là giáo sư trường Cao học Thực hành thuộc ĐH Sorbonne. Tác giả 15 cuốn sách và nhiều bài báo về lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Lịch sử Hà Nội (Histoire de Hanoi) của ông xuất bản ở Pháp trước khi phát hành lần đầu tại Việt Nam năm 2010, "được đánh giá là có cái nhìn sâu lắng về Hà Nội, văn phong mềm mại."

20260919_162500.jpg
 

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
24,023
Động cơ
17,938,605 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Em trích một số đoạn, các bác đọc tham khảo.

Ba mươi sáu phố phường

Những người nước ngoài đến Thăng Long vào thế kỷ XVII và XVIII đều ngạc nhiên trước khu phố buôn bán sầm uất đông người qua lại này. Chỉ qua mấy dòng, Samuel Baron đã nêu bật được sự khác biệt của thành phố lớn ở Bắc Kỳ* như sau: "Về mặt diện tích thành phố này có thể sánh với nhiều thành phố khác ở châu Á, nhưng về mặt dân số thì đông hơn các thành phố kia rất nhiều đặc biệt là vào ngày đầu tháng và ngày rằm. Vì là ngày phiên chợ, nên dân từ các làng lân cận đổ về đây với đủ các loại hàng. Nhiều tuyến phố, mặc dù khá rộng rãi, nhưng vẫn bị tắc nghẽn đến nỗi có khi hàng nửa giờ khách bộ hành mới đi được khoảng trăm bước. Trong khu phố này bán đủ các thứ hàng, mỗi phố chuyên về một mặt hàng riêng, mỗi phố lại được chia thành một, hai hay ba đoạn: mỗi đoạn do dân của một làng chiếm giữ và chỉ có dân làng đó mới có quyền mở cửa hàng. Cách hoạt động này cũng giống như các công ty hoặc phường thợ ở châu Âu.

Chợ thường họp ở cạnh các cửa ô xung quanh tường thành Kẻ Chợ. Từ năm 1749, khi xây dựng bức tường "đại đô” và có thêm tám cửa ô thì số lượng chợ càng tăng thêm. Trong số các chợ được nhiều người biết đến, có chợ Bưởi, chợ Dừa, chợ Tây Nhai họp trong nhiều thế kỷ ở Ô Cửa Đông thường được biết đến dưới tên gọi là chợ Kim Hoa**. Vào thế kỷ XVIII, ngoài tám chợ lớn, Thăng Long còn có các chợ chuyên bán một mặt hàng như gạo, cá, ếch và các gánh hàng rong. Trong khu phố buôn bán, hai khu nhộn nhịp nhất là khu Diên Hưng (nay là phố Hàng Ngang) và khu Đồng Lạc (nay là phố Hàng Đào). Cách đó không xa là chợ Cửa Đông hay còn gọi là chợ Bạch Mã vì chợ họp gần đền Bạch Mã. Chợ nằm ở ngã ba sông Tô Lịch và sông Hồng và được người thời đó cho là một trong tám kỳ quan của kinh thành. Theo Phạm Đình Hổ (1768-1839), người viết nhiều giai thoại về Hà Nội, thì chợ này nổi tiếng vì bọn chuyên móc túi: "Những quân trộm cắp hay thừa cơ cướp giật, có khi thò tay vào túi người ta móc lấy hết cả. Có khi chúng cố ý làm cho ồn ào, đổ xô nhau mà chạy để rồi cắp bọc áo người ta, hoặc khuân đồ vật hàng hóa. Có khi chúng huyên truyền là voi lồng, ngựa xố để các người chợ búa và người đi đường xô nhau chạy, hàng hóa đồ vật bừa bãi, lúc biết là chúng huyên truyền láo thì quân kẻ cắp đã phỗng hết cả rồi”.

* Một thế kỷ sau thấy dòng Richard viết như sau: "Nghề buôn ở đây rất phát triển, các loại hàng hóa phong phú được chuyển đến đây qua con sông lớn chảy ngang qua thành phố bằng đò và thuyền. Trên những chuyến đò chở đủ các loại hàng hóa và nông sản này, dân các tỉnh đổ về thủ đô, bởi buôn bán ở thủ đô là nghề chính của họ" trong Histoire naturelle, civile et politique du Tonquin, Paris, Moutard, 1778.

** Do không tìm được tên gốc, chúng tôi tạm dịch là "Kim Hoa" theo tên đã được tác giả dịch ra tiếng Pháp là "Fleur d'or", (ND)

1000098974.jpg
 
Chỉnh sửa cuối:

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
24,023
Động cơ
17,938,605 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Ban đầu các chợ ở thủ đô đều hợp theo phiên, với lịch trình chặt chẽ. Nhưng dần dần, dân số trong thành ngày càng tăng và các chợ bắt đầu họp thường xuyên. Các chợ chuyên bán gạo, cá và hàng nông sản phần lớn đều tập trung ở phía Đông nơi dân cư đông đúc và giao thông thuận tiện, bởi như Samuel Baron viết, thì sông Hồng "là tuyến giao thông hết sức thuận tiện cho thủ đô. Trên con đường thủy này đủ các mặt hàng được chuyển vào thành phố nhờ một đội thuyền đông vô kể đi lại như con thoi đến mọi miền của đất nước". Những chiếc thuyền nhỏ theo sông Tô Lịch vào thành phố, cập bến gần chợ Bạch Mã (hình thành nên phố Hàng Bè và phố Hàng Buồm) và len lỏi theo hồ ao, kênh rạch, thỉnh thoảng lại dừng lại ở các bến, nơi có những chợ nhỏ họp gần bờ sông bán nước mắm, đường, muối (phố Hàng Mắm, Hàng Đường, Hàng Muối). Các bến thuyền này đóng vai trò hết sức quan trọng. Điều này được thể hiện rõ qua cụm từ chợ búa người Việt dùng để chỉ chợ nói chung, trong đó búa có nghĩa là cầu tàu; hay từ phố (庯) bằng chữ Nôm được hình thành từ bộ mái che và bộ 浦 để chỉ bờ sông hay bến nổi. Như vậy, ban đầu, phố là nơi mua bán, là khu dân cư tập trung quanh khu vực bến thuyền.

Trước đây trong các phường không có phố. Phường xuất hiện vào khoảng thế kỷ XI, gần giống như một làng và thường nằm ở bên ngoài khu buôn bán. Có những phường chuyên nghề trồng rau (như Nghi Tàm, Quảng Bá), hoa quả (phường Thịnh Quang nổi tiếng về trồng nhãn) hoặc làm tranh (phường Yên Phụ) hay đồ đồng (phường Ngũ xã bên hồ Trúc Bạch). Các phường bên phía Tây Hồ Tây nổi tiếng về nghề dệt lụa thường (phường Bái Ân), lĩnh (phường Võng Thị) và gấm (phường Trích Sài). Các phường ở phía Nam Hồ Tây, gần Cầu Giấy ngày nay, chuyên nghề làm giấy dó, như phường Bưởi và Yên Thái. Ban đầu các phường này chỉ sản xuất các loại giấy thường, nhưng vào khoảng cuối thế kỷ XVI, họ đã đa dạng hóa ngành hàng bằng cách làm các loại giấy cao cấp cho triều đình và phủ chúa. Gần đó còn có phường Nghĩa Đô chuyên sản xuất loại giấy vàng kim thường được dùng để viết văn bằng [sắc phong]. Giấy Nghĩa Đô nổi tiếng đến nỗi vào thế kỷ XIX. khi kinh đô dời vào Huế, triều đình vẫn tiếp tục gửi mua loại giấy này.

Các phường thường hình thành gần nguồn nước, bởi nước là vếu tố không thể thiếu cho sản xuất nông nghiệp cũng như trong ngành luyện kim, dệt lụa hay làm giấy. Có lẽ là vào thế kỷ XVII, các phường này cũng không thay đổi nhiều lắm so với trước, nhưng giờ đây người trồng rau và thợ thủ công đã có thể bán hàng làm ra dễ dàng hơn, phần vì độc quyền của nhà nước dần dần mất đi, phần vì người sản xuất có thể trực tiếp tiếp cận các thương lái ở thủ đô. Chẳng hạn như thợ thủ công phường Yên Thái và Hồ Khẩu có thể mang vải và giấy đến tận nơi bán cho các cửa hiệu ở phố Hàng Đào và Hàng Giấy.

Các phố buôn bán thường nằm ở khu trung tâm thành phố, bên bờ sông Hồng. Mỗi phố mang tên một mặt hàng được bày bán ở đó: hàng Đường, hàng Gai, hàng Bài, Thợ Nhuộm, Bát Sứ, hàng Bông, hàng Gà, hàng Khay, hàng Thiếc, hàng Vôi, hàng Muối, hàng Nón, hàng Trống, hàng Quạt, hàng Than, hàng Lược, hàng Hòm, Thuốc Bắc... Theo nhà truyền giáo Filippo de Marini (1663) thì ở đầu mỗi phố đều có treo một tấm biển gỗ, trên đó có tên mặt hàng, danh sách các cửa hàng nên đến hay không nên đến. Cuối thế kỷ XIX, bác sĩ Hocquard kế lại như sau: “Các cửa hiệu thêu đều tập trung trên một phố, các cửa hiệu bánh ngọt, đồ mộc, vải lụa... cũng vậy".

1000098975.jpg
 

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
24,023
Động cơ
17,938,605 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Có khi thợ thủ công trực tiếp bán hàng làm ra. Đây chính là nét độc đáo của một cơ chế linh động, đặc biệt phù hợp với những hộ buôn bán nhỏ. Căn cứ vào thời điểm, giá cả và tính chất đơn đặt hàng, người ta có thể đặt làm một số hàng ở nông thôn hoặc, ngược lại, đưa thêm thợ từ nông thôn ra thành phố. Chẳng hạn như các hộ làm tranh dân gian ở phố Hàng Trống gần hồ Hoàn Kiếm thường làm theo đơn đặt hàng. Họ cấn rất nhiều hàng vào dịp giáp Tết và Trung thu, vì thế họ thuê thợ ở nông thôn rập khuôn hình sau đó họ chỉ việc dùng phẩm màu trộn hồ quết lên để tô màu. Tranh ở phố Hàng Trống là loại tranh chất lượng cao nối tiếng vì hình vẽ đa dạng và màu sắc phong phú.

Để hiểu được nét đặc thù của khu phố buôn bán ở Hà Nội cần tìm hiểu sự khác biệt giữa khái niệm phường một đơn vị hành chính dùng để chỉ một làng trong thành phố và khái niệm phố không được công nhận về mặt hành chính, mà chỉ là một phần đất nơi dân trong làng bay bán các sản phẩm làm ra. Còn cụm từ phố phường thì được dùng để chỉ một phường trong đó bao gồm nhiều phố, hay nói cách khác là một không gian đô thị bao gồm một con đường hai bên có cửa hàng, bên trong là kho để hàng, sân, xưởng sản xuất và nhà ở. Chính sự nhầm lẫn giữa phường và phố đã làm này sinh ra tên gọi "Hà Nội ba mươi sáu phố phường" hình thành nên từ nhiều phường tồn tại từ thế kỷ XV. Trên thực tế khu vực buôn bán này gồm hàng trăm phố. Hơn nữa con số ba sáu là số đẹp (xuất hiện trong nhiều câu ngạn ngữ).

Cùng với thời gian, khái niệm phố thường được sử dụng nhiều hơn khái niệm phường và trở thành ranh giới hành chính giữa các cộng đồng dân cư không ngừng cạnh tranh với nhau. Phố là đề tài của nhiều bài ca dao, tục ngữ. Cho đến tận năm 1954 chính các phố trưởng làm nhiệm vụ quản lý thành phố, chứ không phải phường trưởng. Một điều đáng để chúng ta lưu tâm nữa là, trong khu phố buôn bán, phường dần dần biến mất (trừ phường Đồng Xuân) và ngay từ thế kỷ XIX tên phường được lấy làm tên phố, trong khi đó ở khu vực ngoại vi phường vẫn được duy trì (Yên Phụ, Nghi Tàm, Hồ Khẩu, Thịnh Hào).

1000098976.jpg
 

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
24,023
Động cơ
17,938,605 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Tổ chức các phường buôn

Ở đầu mỗi đường phố đều có cổng vào tượng trưng cho sự độc lập của cộng đồng dân cư sống sau cánh cổng đó, họ tự tổ chức và quản lý đời sống của cộng đồng. Năm 1688, William Dampier viết rằng mỗi phố có một "nơi giam giữ những kẻ lang thang cơ nhỡ lảng vảng ban đêm" và một đội quân canh phòng, mỗi dân phòng được trang bị một cây gậyy dài. Họ sử dụng cây gậy này hết sức khéo léo và nếu muốn, họ có thể dễ dàng đánh gãy cẳng bất cứ kẻ nào ... Họ chăng ngang qua phố một sợi dây chão ở tầm ngang ngực và tra hỏi tất cả những người muốn đi qua.

Sau đó ít lâu sợi dây chão chăng ngang qua phố đã được thay bằng cổng gỗ hoặc cổng tre chắc chắn hơn. Các cổng phố này được bác sĩ Hocquard mô tả như sau: "Các phường ở Hà Nội hoàn toàn bị chia cắt với nhau bởi những cánh cổng lớn chiếm toàn bộ chiều rộng của phố. Các cổng này được đóng lại vào ban đêm theo một cách thức độc đáo như sau: người ta xây một bức tường đá chắn ngang qua phố, trên đó người ta để trống một ô lớn hình chữ nhật tạo thành một khung cửa chắc chắn bốn phía được gia cố bằng xà gỗ vuông. Xà gỗ ở phía trên và phía dưới khung cửa này được đục những lỗ hình tròn cách đều nhau trên đó người ta cắm các cọc gỗ tròn song song với nhau. Các lỗ ở xà phía trên thường được đục rất sâu sao cho người ta có thể rút các cọc gỗ lên và kéo ra khỏi lỗ mộng phía dưới để mở một lỗ nhỏ vừa đủ cho người đi qua. Với cách làm này, người ta có thể mở toàn bộ cửa bằng cách nhổ hết các cọc gỗ, hoặc chỉ mở hé một chút bằng cách bỏ một hoặc hai cọc".

Những người Trung Quốc buôn bán ở khu vực này giàu có hơn. Họ thường làm cổng xây, xung quanh “có tưởng chắn, bên trên có lỗ châu mai như tường bao quanh thành phố và cô đường đi bên trên cho lính canh đi tuần. Với cách này người Hoa đã biến ba phố nơi họ sống thành một thành phố nhỏ trong lòng thành phố lớn. Hiện nay không còn vết tích gì của các cổng này ngoại trừ một số lỗ có đóng cọc.

1000098977.jpg
 

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
24,023
Động cơ
17,938,605 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Ban đầu, hầu hết ở Kẻ Chợ chỉ toàn nhà một tầng. Đến thế kỷ XVII, nhà truyền giáo Filippo de Marini có thấy một số nhà hai, ba tầng. Quy định do triều đình đề ra từ thế kỷ XI, cấm không được xây nhà bằng gạch và cao từ hai tầng trở lên đến lúc này không còn hiệu lực vì thủ đô không còn là đất của Thiên Tử nữa. Do đó lệnh cấm xây nhà cao hơn cung vua cũng bị bãi bỏ và mỗi người mỗi cộng đồng dân cư tự xây theo ý riêng của mình.

Nhà hai tầng cũng là một phương án để tránh ngập lụt bởi thời đó tình trạng ngập lụt khá phổ biến. Công tác đắp đê bao được triển khai dưới thời Lý, Trần nhiều lần bị gián đoạn vì giặc loạn. Năm 1514, cả kinh thành chìm trong nước tới hai mươi ngày, rắn rết từ ao hồ tràn vào thành phố. Sử sách còn viết rằng mùa hè năm 1630 nước sông Hồng tràn vào ngập phía Đông thành phố "khiến nhiều người chết đuối".

Nhà trong thành phố thường được xây sát nhau, chủ yếu bằng gỗ, rơm rạ hoặc đất trộn rơm, vì thế hỏa hoạn rất dễ lan sang các phố khác. Năm 1631, một vụ cháy lớn bắt đầu ở cửa phía Đông hoàng thành, lan vào cung điện và khu phố buôn bán khiến nhà vua phải rời cung trong bốn ngày. Để bảo vệ những tài sản quý giá khỏi hỏa hoạn, người dân thường xây trong nhà hoặc trong sân một cái hốc bằng gạch có cửa nhỏ và trát một lớp đất dày bên trên để khi hỏa hoạn xảy ra người ta ném các đồ đạc quý vào đó. Đồng thời, người dân cũng có các biện pháp phòng ngừa như trong các tháng hè, nhà nào cũng có một vại nước ở trên tầng và một cái xô nối vào một cây sào dài để múc nước trong ao hồ khi cấn thiết. Mái nhà làm bằng các tấm tranh có thể tháo rời khi vừa bắt lửa. Chính vì thế nhà nào cũng có một cái sào dài nữa có móc ở đầu để kéo những tấm mái lợp xuống. Bên cạnh những biện pháp phòng ngừa này còn có những hình phạt nhằm đảm bảo mọi người đều tuân thủ. Những người bị nghi là vô tình hay hữu ý gây ra hỏa hoạn đều phải chịu hình phạt đặc biệt như sau: người chịu phạt bị bắt ngồi trên một chiếc ghế cao, đầu để trần, dưới trời nắng trong suốt ba ngày liền.

Từ thế kỷ XVII, Nhà nước không kiểm soát việc buôn bán và di cư nữa nên các thợ thủ công từ làng quê có thể trực tiếp buôn bán với các cửa hiệu ở thành phố. Cuộc cách mạng nhỏ này đã khai thông làn sóng di dân liên tiếp diễn ra một cách khá trật tự. Những người từ nông thôn ra thường tụ tập theo làng nhằm tái tạo một môi trường quen thuộc.

Vì những người dân trong "phố phường" đều có nguồn gốc từ nông thôn nên họ hình thành nên những cộng đồng dân cư vô cùng gắn bó. Quá trình di cư thường bắt đầu từ một thanh niên được cử lên thành phố nắm bắt tình hình, sau đó đưa cả nhà lên sinh sống và bán các sản phẩm làm ra. Nhưng những người này vẫn giữ mối liên hệ với quê hương. Người làm gốm sứ thường về quê mua đất sét, người bán thuốc về mua thảo dược và người bán bánh về mua đường. Kỹ nghệ được dân các làng nghề tích cóp từ bao đời còn góp phần làm nên danh tiếng của các sản phẩm được bày bán ở thủ đô: người thành thị chỉ mua ấm tích Bát Tràng, quạt Đào Xá hay đồ kim hoàn do thợ Châu Khê làm. Sở dĩ những người này gắn bó với làng quê còn vì một lý do nữa đó là họ vẫn chính thức có tên trên sổ đinh. Đó là cách duy nhất để được chia đất theo định kỳ và tùy cơ may, một ngày nào đó họ sẽ có vinh dự đục bầu vào hội đồng kỳ mục, vừa có uy tín vừa có một nguồn thu nhập đáng kể.

Như vậy là những người từ nông thôn ra thành phố không bao giờ rời bỏ hẳn làng quê. Gia phả của các gia đình cho thấy rằng họ thường chỉ định cư tạm thời ở thành phố. Những cuốn gia phả này giúp xác định vị trí của mỗi thành viên trong họ tộc nhằm phân chia thừa kế hay quản lý việc cưới xin, xác định quan hệ trên dưới trong dòng họ cũng như quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người trong các tập tục văn hóa (thờ cùng, giỗ tết, xây mộ...).

Lịch sử của hai gia đình ở Hà Nội hiện vẫn sinh sống trên đất của tổ tiên cho thấy rằng tại thành phố này mỗi người đều có thể tạo lập cơ hội cho mình. Cuối thế kỷ XVIII, gia đình họ Nguyễn quyết định rời làng Tam Xá lên thủ đô cách làng hai mươi lăm cây số về phía Bắc. Họ định cư gần hồ Hoàn Kiếm sống bằng nghề sản xuất và bán mũ dùng trong lễ hội. Các thành viên của gia đình này hiện vẫn ở nguyên vị trí cũ (trên phố Hàng Bài).

Con cái của cặp vợ chồng đầu tiên ra định cư ở đây đều được sinh ra tại Thăng Long. Thời kỳ đầu, đàn ông trong gia đình này vẫn tiếp tục về quê lấy vợ, nhưng đến năm 1840, cháu nội của cặp vợ chồng đầu tiên đã lấy một cô vợ người thành phố. Hôn nhân của cặp vợ chồng này tượng trưng cho sự gắn kết giữa hai dòng họ di cư, bởi cô dâu là người của dòng họ Bùi quê vùng duyên hải Thái Bình. Dòng họ này lên định cư ở Thăng Long vào giữa thế kỷ XVIII, tạo nên một cộng đồng hùng mạnh và lấy tên làng quê đặt tên cho nơi họ sống ở kinh thành là Phất Lộc*.

* Trên bia đình Phất Lộc có ghi rõ rằng đình được xây vào thời Cảnh Hưng để thờ thành hoàng làng tại quê gốc. Cảnh Hưng là niên hiệu của vua Lê Hiển Tông trị vì từ năm 1740 đến năm 1786. (Tác giả sử dụng tư liệu gốc của viện Hán Nôm, bán rập số 17043-17044, tuy nhiên do không tìm được bản gốc, chúng tôi tạm dịch nghĩa của bản rập - ND

1000098978.jpg
 
  • Vodka
Reactions: XPQ

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
24,023
Động cơ
17,938,605 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Gia đình thứ hai di cư từ xa đến. Phố Lãn Ông, nối liền với phố Hàng Buồm, là nơi sinh sống của cộng đồng người buôn bán gốc Hoa, trong đó nổi bật lên là dòng họ Phó**. Người đầu tiên của gia đình này sinh ra tại Phúc Kiến (phố này mang tên Phúc Kiến cho mãi đến năm 1945) rời Trung Quốc năm 1591 cùng vợ và năm trong số bảy người con trai. Lúc bấy giờ, thủ đô nước Đại Việt đang bị chiến tranh tàn phá, nên cả gia đình đã phân tán ra sống tại ba làng cách kinh thành hai mươi cây số về phía Đông Nam. Duy chỉ có người con út là liều vào thành Thăng Long và định cư ở phía Nam Hồ Tây. Một thời gian sau, một người con khác cũng chuyển đến sống ở một làng nhỏ cách Thăng Long mười hai cây số về phía Tây Bắc. Tất cả năm người con này đều lấy vợ Việt Nam khiến cho gia đình nhanh chóng hòa nhập vào đời sống xã hội. Chỉ trong vòng mười năm, đại gia đình này đã được Việt hóa và bốn chi chia ra sống ở bốn nơi. Những người trong gia đình này kết hôn với người vùng châu thố và qua đó mở rộng thêm ảnh hưởng của mình***. Vào thế kỷ XVII và XVIII, người họ Phó từng thử gia nhập xã hội thượng lưu và tham gia vào chính trường, nhưng không thu được thành công đáng kể. Chỉ có người con trai thứ bảy của cụ Phó Đức Cơ (1624-1707), người từng giữ chức trợ lý cho quan huyện, là lên tới được ngạch ba trên con đường hoạn lộ và được giữ một chức vụ quan trọng ở Binh bộ.

Gia đình này chủ yếu thành công nhờ thương mại. Vào cuối thế kỷ XVIII, một người thuộc thế hệ thứ chín trong gia đình mở một cửa hàng bán thuốc bắc tại Hà Nội. Cháu ông và sau đó là các thành viên khác trong gia đình cùng làm theo. Kể từ đó, gia đình họ Phó định cư hẳn trong thành phố, tiến hành sản xuất và buôn bán khá thành công Dưới thời Pháp thuộc, dòng họ này có một trong những xưởng sản xuất gạch ngói lớn nhất Bắc Kỳ (gạch của gia đình này được dùng để xây lò sưởi trong một khách sạn lớn hiện còn tồn tại ở Hà Nội). Trong suốt hai thế kỷ, người trong họ này sinh ra, lớn lên và mất đi ở phố Lãn Ông, nơi chứng kiến sự thăng tiến kỳ diệu của dòng họ Phó cả về phương diện kinh tế và xã hội. Các cửa hàng bán thuốc, cũng như danh tiếng của dòng họ này, hiện vẫn còn nguyên vẹn qua những biến động về chính trị và xã hội. Một thành viên của gia đình là Phó Đức Chính (1907-1930) từng là thành viên quan trọng của Việt Nam Quốc dân đảng, bị kết án tử hình sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái chống thực dân năm 1930.

Thành thị không những là vùng đất hứa mà còn là một không gian tự do, bởi ở đây không có sự phân biệt giàu nghèo, không có sự khác biệt giữa người Việt và người Hoa, giữa nông dân và thợ thủ công. Dần dà những người từ tứ xứ đến đây sống tập trung thành những cộng đồng, phần vì đất đai ở thành phố khan hiếm, phần vì các nghề thủ công thường bổ sung cho nhau. Điều này được thể hiện rõ qua lịch sử phố Hàng Bạc.

** Năm 1923, một người họ Phó đã dịch và xuất bản gia phả của nhiều chi thuộc dòng họ này ra chữ quốc ngữ.

*** Cuốn gia phả này cho chúng ta thấy rõ phần nào câu nói đùa của người xưa là người Hoa (chủ yếu là những thương gia giàu có) có bao nhiêu cửa hàng thì lấy bấy nhiêu vợ.

1000098979.jpg
 
  • Vodka
Reactions: rfs
Thông tin thớt
Đang tải

Bài viết mới

Top