Cuối tuần rảnh rang, em lại lôi chuyện Hà Nội ra buôn với các cụ mợ, kẻo lại bị đuổi khỏi thớt vì tội nói chuyện ba lăng nhăng.
Em vốn yêu cây, mà cũng hay nhớ phố bằng cây. Thành ra nhiều khi đi trên đường chẳng nhớ tên phố đâu, nhưng lại nhớ “à, đoạn này ngày trước có hàng cây kia”, hoặc nhớ một cái cây nào đấy mình từng đi qua rất nhiều lần. Nghĩ cũng buồn cười, cây đứng một chỗ thì có khi chẳng ai để ý, nhưng tự nhiên đến lúc nó mất đi lại thấy cả con phố như thiếu một cái gì.
Rồi em mới để ý là những cây mình vẫn gọi là “cây Hà Nội” thật ra cũng mỗi cây một quê. Có cây vốn ở đất Bắc, có cây từ những vùng rất xa được đưa về, có cây chẳng rõ vào Hà Nội từ bao giờ. Cây cối cũng như người, có quê quán đàng hoàng, nhưng sống ở đâu lâu rồi thì cái nguồn gốc ban đầu cũng không còn ưuan trọng mấy nữa
Chuyện này nếu lần ngược lại thì lại dính đến thời Hà Nội được quy hoạch từ cuối thế kỷ XIX. Người Pháp mở đường, làm những khu phố mới, xây dựng đô thị theo kiểu châu Âu, rồi cũng bắt đầu tính đến chuyện trồng cây, làm vườn, tạo những khoảng xanh. Vườn Bách Thảo cũng được lập vào thời kỳ ấy, vừa để sưu tập các loài cây, vừa thử nghiệm, ươm cây rồi đưa ra trồng ở những khu phố mới.
Sấu chẳng hạn. Sấu vốn là cây của vùng rừng núi phía Bắc, sau được đưa về Hà Nội trồng làm cây bóng mát. Nó hợp đất, hợp khí hậu, lớn nhanh, sống khỏe, thế là cứ thế mà thành cây phố. Mà sấu vào Hà Nội thì có thêm một đời sống khác hẳn. Quả sấu xanh, mùa hè hái xuống nấu canh, ngâm đường, làm ô mai, dầm muối ớt... Trẻ con thì thích ăn, người lớn thì thích nấu canh. Rồi đến đầu hè, tự nhiên người ta lại rủ nhau đi Phan Đình Phùng, chẳng biết để làm gì ngoài ngắm hàng sấu, chụp mấy cái ảnh, đi bộ dưới vòm cây.
Người xa Hà Nội nhiều khi còn nhờ mua cho ít sấu mang vào. Thật ra sấu đâu phải chỉ Hà Nội mới có, nhưng có những thứ ăn ở nơi khác vẫn là thứ quả ấy, về đến Hà Nội tự nhiên lại có thêm vị của ký ức.
Mà nhắc đến cây phố Hà Nội thì lại không thể không nhắc Lò Đúc. Ở đấy có hàng sao đen rất nổi tiếng. Sao đen cũng chẳng phải cây riêng của Hà Nội, nó vốn có ở Nam Á, Đông Nam Á, ở Việt Nam cũng có từ lâu, nhất là phía Nam. Nhưng hàng sao đen Lò Đúc lại gắn với thời kỳ người Pháp trồng cây trên các tuyến phố mới. Khoảng đầu thế kỷ XX, cây được trồng ở Lò Đúc, rồi cứ thế lớn lên.
Cây sao đen có cái dáng rất khác sấu. Cao, thẳng, thân cây cứ vươn lên, đứng cạnh nhau thành cả một hàng. Bây giờ đi dưới đấy chắc chẳng mấy ai còn nghĩ xem nó từ đâu đến. Nó ở Lò Đúc lâu đến mức em cứ thấy Lò Đúc cũng thành quê của nó rồi.
Xà cừ thì còn đi xa hơn nữa, quê tận châu Phi. Người Pháp đưa vào Việt Nam từ thời thuộc địa, lúc đầu cũng là thử nghiệm xem có hợp làm cây bóng mát đô thị không. Rồi từ Bách Thảo, cây được nhân giống và trồng dần ra các phố.
Ngày ấy người ta chắc cũng chỉ nghĩ đơn giản lắm. cây nào lớn nhanh, tán rộng, chịu được nắng nóng thì trồng. Ai mà biết được mấy cái cây con từ tận châu Phi ấy sau này sẽ đứng hàng chục, hàng trăm năm ở Hà Nội, để hết lớp học sinh này đến lớp học sinh khác đi dưới bóng nó, rồi những người đi làm, đi chơi, hẹn hò, yêu đương cũng đi dưới bóng nó.
Mà cây Hà Nội có cái thú vị là có cây nhớ bằng bóng mát, có cây nhớ bằng quả, lại có cây chẳng cần nhìn thấy, chỉ cần ngửi thấy là biết mùa nào.
Hoa sữa có câu chuyện quê quán hơi lằng nhằng. Nó vốn phân bố ở nhiều vùng Nam Á, Đông Nam Á, trong đó Việt Nam cũng có. Còn vào Hà Nội bằng đường nào, từ đâu, từ bao giờ thì không thật rõ. Có tài liệu nói người Pháp đưa từ một thuộc địa khác về, nhưng chuyện ấy cũng còn những khoảng chưa thật chắc. Thôi thì cứ để nó hơi mờ mờ như thế cũng hay. Vì bây giờ có ai hỏi hoa sữa quê ở đâu đâu. Nhắc hoa sữa là người ta nghĩ ngay đến Hà Nội, đến những đêm thu, đến cái mùi có người mê, có người chạy mất dép vì nồng.

Nhưng dù thích hay không thích thì cứ đến mùa hoa sữa, tự nhiên người ta biết: à, thu Hà Nội đây rồi.
Rồi từ hoa sữa lại nhảy sang phượng. Vì hoa sữa là thu, còn phượng thì lại kéo thẳng mình về tháng năm, tháng sáu.
Phượng cũng chẳng phải cây Hà Nội. Quê tận Madagascar cơ. Theo những con đường rất xa mới đến vùng nhiệt đới châu Á. Thế mà sang đây một thời gian lại thành cây của học trò. Cứ hè đến là hoa đỏ, ve kêu, sân trường, chia tay, lưu bút. Bao nhiêu người lớn bây giờ chắc vẫn còn nhớ một cây phượng nào đó của trường mình.
Người ta đem cây cối đến đây vì một lý do rất cụ thể, để phục vụ lợi ích cho họ. Rồi cây cứ thế sống. Nó chẳng quan tâm mình từ Madagascar, châu Phi hay từ đâu đến. Nó cứ lớn lên, gặp mưa Hà Nội, nắng Hà Nội, rét Hà Nội, bụi Hà Nội. Cành nào vướng thì bị cắt, cây nào già thì bị chặt. Nhưng trong lúc nó sống cuộc đời của nó thì người ta lại sống cuộc đời của người ta dưới bóng nó.
Một đứa trẻ ngày xưa ngồi dưới gốc cây, sau lớn lên đi xa. Hai mươi, ba mươi năm sau quay về, đi ngang qua con phố cũ, thấy cái cây vẫn còn. Có khi nhà cũ mất rồi, cửa hàng ngày trước cũng chẳng còn, trường học thay đổi, phố xá thay đổi hết, nhưng cái cây vẫn đứng đấy. Thế là nhớ.
Mà nhiều khi người ta tưởng mình nhớ cái cây, thật ra là nhớ cái thời mình còn trẻ ở dưới cái cây ấy.
Em cứ nghĩ ký ức Hà Nội chắc cũng có một phần nằm ở những chỗ như thế. Chứ lịch sử thì người ta ghi trong sách, những công trình thì có thể giữ lại, còn ký ức của từng người đôi khi lại chẳng có gì to tát cả. Một hàng cây, một góc phố, một mùa hoa, một mùi hương. thế thôi!
Nhưng chỉ cần gặp lại là bao nhiêu chuyện cũ tự nhiên quay về.Thành ra bây giờ bảo cây nào là cây Hà Nội, em cũng chẳng biết lấy tiêu chí gì. Cây nào sinh ra ở đây à? Thế thì có khi thiếu mất bao nhiêu cây. Cây nào được trồng đầu tiên à? Lại càng khó.
Có lẽ cứ ở đủ lâu thì thành cây Hà Nội thôi. Sấu, sao đen, xà cừ, hoa sữa, phượng vĩ... mỗi cây một lai lịch, một nơi sinh ra, một con đường đến đây. Nhưng rồi chúng cùng đứng dưới cái trời Hà Nội này, cùng chịu mưa nắng Hà Nội, cùng nhìn phố thay đổi, cùng chứng kiến người nọ đến người kia đi.