Báo Anh
2026 có trở thành một năm chiến tranh? Các phạm vi ảnh hưởng đang dần củng cố
5/1/2026
Năm 2026 có thể là năm đầu tiên trong cuộc đời tôi mà xác suất xảy ra một cuộc chiến tranh quy mô lớn hơn ở châu Âu không còn là điều nhỏ nhặt: và các rủi ro vừa mới gia tăng. Cuộc can thiệp của Donald Trump vào Venezuela và việc bắt giữ Nicolás Maduro là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy địa chính trị đã quay trở lại học thuyết Chiến tranh Lạnh về các phạm vi ảnh hưởng. Đối với Mỹ, ưu tiên của họ là Tây Bán Cầu. Phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc trải dài tới Đài Loan, còn của Nga là Ukraine và các khu vực khác thuộc Liên Xô cũ. Khi sự chú ý của Mỹ hướng sang nơi khác, và Putin được khích lệ, khả năng cuộc chiến này tiếp diễn đang tăng lên.
Trong thời Chiến tranh Lạnh của tuổi trẻ tôi, luôn tồn tại nguy cơ xung đột ngoài ý muốn. Nhưng cả Mỹ lẫn Liên Xô đều được điều hành bởi những người nỗ lực ngăn điều đó xảy ra. Ngay cả trong những cuộc khủng hoảng căng thẳng nhất, ngoại giao vẫn chiếm ưu thế.
Giờ thì mọi thứ hoàn toàn khác. Ở cả hai bờ Đại Tây Dương, tại Nga và khắp Tây Âu, tôi thấy một sự sẵn sàng về mặt ngôn từ cho xung đột vũ trang ở quy mô chưa từng thấy. “Nga đã đưa chiến tranh trở lại châu Âu,” Mark Rutte, Tổng Thư ký NATO, gần đây tuyên bố, đồng thời nói thêm rằng “chúng ta phải chuẩn bị cho quy mô chiến tranh mà ông bà và cụ kỵ của chúng ta từng trải qua.” Trong khi đó, Thống chế Không quân Anh Sir Richard Knighton nói rằng tình hình nguy hiểm hơn bất kỳ thời điểm nào trong sự nghiệp của ông: “Con trai và con gái. Đồng nghiệp. Cựu binh… tất cả đều sẽ phải đóng vai trò của mình – để xây dựng, để phục vụ, và nếu cần thiết, để chiến đấu.” Về phần mình, người đứng đầu Cơ quan Tình báo Liên bang Đức đã cảnh báo rằng Nga có thể tấn công châu Âu trước khi thập kỷ này kết thúc.
Nếu cuộc chiến với Nga xảy ra, nó sẽ không chỉ vì Trump đã khích lệ Putin, mà còn vì chúng ta đã để tình hình ở Ukraine vượt khỏi tầm kiểm soát. Sự ủng hộ của chúng ta là một chuỗi những phán đoán sai lầm. Khi mọi người khoác lên mình lá cờ Ukraine vào năm 2022, các “chuyên gia” tự xưng đã tỏ ra hăng hái một cách đáng kinh ngạc về chiến thắng cuối cùng của Kyiv. Các tướng lĩnh nghỉ hưu cạnh tranh nhau đưa ra dự đoán Ukraine sẽ hoàn thành nhiệm vụ nhanh đến mức nào — hai tuần, một người suy đoán. Giờ đây, chúng ta đã gần bốn năm bước vào cuộc xung đột, và với tư cách là thành viên của cái gọi là “liên minh tự nguyện”, chúng ta – người châu Âu – đã khuyến khích Ukraine chiến đấu đến cùng, dù không có cơ hội chiến thắng.
Giờ đây, hoàn toàn có khả năng Nga sẽ chiếm đóng nhiều hơn bốn tỉnh mà họ đang nhắm tới, và Ukraine mất đi nền độc lập. Được khích lệ bởi chiến thắng, Nga có thể sẽ tìm kiếm nhiều hơn nữa. Ở phía bên kia, một số người châu Âu thậm chí tìm cách thay đổi chế độ ở Nga. Để trích lời Kaja Kallas, Đại diện Cấp cao của EU về chính sách đối ngoại và an ninh: “không phải là điều xấu nếu cường quốc lớn đó thực sự trở nên nhỏ hơn.”
Chúng ta đã từng trải qua điều này. Trước Thế chiến thứ nhất, thanh niên Đức và Áo-Hung cũng háo hức với chiến tranh, giống như nhiều người châu Âu ngày nay. Người Đức ghen tị với ông bà của họ, những người từng tham gia các trận đánh “vinh quang” trong Chiến tranh Pháp–Phổ 44 năm trước đó. Khi ấy cũng như bây giờ, giới chính trị và quân sự đã đánh giá thấp mức độ khó khăn của chiến tranh.
Tuy nhiên, có một khác biệt lớn. Năm 1914, các đạo quân châu Âu ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Một chiến thắng của Đức và Áo-Hung ít nhất là có thể hình dung được. Ngày nay, Ukraine không còn khả năng thắng cuộc chiến, cũng như Tây Âu – nếu không có sự trợ giúp của Mỹ – không thể đánh bại Nga.
Cuộc xung đột châu Âu mở rộng này không nhất thiết sẽ là một cuộc chiến trên bộ cổ điển. Tôi không tin rằng Putin có kế hoạch xâm lược Tây Âu như các quan chức an ninh tuyên bố. Nỗi lo lớn nhất của tôi là chiến tranh lai: máy bay nổ tung trên sân bay Heathrow; một vụ nổ tại nhà ga đông đúc ở Đức; hoặc thậm chí một vụ nổ hạt nhân dưới nước gây ra sóng thần. Brussels, với tư cách là nơi đặt trụ sở của NATO và EU, đặc biệt dễ bị tổn thương. Và bất kỳ phản ứng nào trước những hành động khiêu khích như vậy đều có thể nhanh chóng leo thang.
Đây là loại hình chiến tranh mà người châu Âu ít được chuẩn bị nhất. Các chuyên gia an ninh phương Tây coi chiến tranh lai là thứ hạng thấp, dành cho những kẻ “kém văn minh” như người Nga. Nhưng nó chết chóc, và chúng ta là những nạn nhân lý tưởng. Chúng ta sống trong không gian chật hẹp, phụ thuộc vào hạ tầng và công nghệ trọng yếu. Và từ góc nhìn của Nga, những cuộc tấn công như vậy sẽ không kích hoạt điều khoản phòng thủ tập thể của NATO. Tại sao phải xâm lược Estonia, nếu có thể gieo rắc hỗn loạn hoàn toàn tại các thủ đô châu Âu, trong khi vẫn duy trì được khả năng phủ nhận hợp lý?
Vương quốc Anh không phải không nhận thức được điều này. Tháng 11, Ủy ban Quốc phòng của Hạ viện cảnh báo rằng chính phủ Anh đang hành động “chậm như băng trôi” trong việc triển khai “Chương trình Phòng thủ Nội địa”, một chiến lược mới về khả năng chống chịu và an ninh quốc gia nhằm bảo vệ đất nước trước các rủi ro nghiêm trọng, bao gồm cả các cuộc tấn công phi truyền thống. Thế nhưng chương trình này đã bị trì hoãn hơn một năm, ngay cả khi các nhà lãnh đạo Anh đang tuyệt vọng đẩy cao giọng điệu chiến tranh.
Tuy nhiên, ngày càng rõ ràng rằng các hệ thống chính trị của chúng ta còn lâu mới sẵn sàng cho một cuộc chiến. Anh, Đức và Pháp đều không sẵn sàng chi trả cho việc hỗ trợ Ukraine từ ngân sách của chính mình, cũng như không muốn tăng thuế. Đây là lý do vì sao họ rất háo hức sử dụng các tài sản Nga bị đóng băng trong các ngân hàng châu Âu. Giờ đây, khi Bỉ – quốc gia nơi phần lớn tài sản được giữ – đã chặn đứng vụ “cướp” này, các chính trị gia châu Âu sẽ phải thực sự bỏ tiền túi ra.
Vấn đề là cử tri của họ sẽ không cho phép. Cử tri châu Âu không sẵn sàng từ bỏ phúc lợi xã hội để tài trợ cho chiến tranh, và các cuộc thăm dò liên tục cho thấy sự ủng hộ đối với viện trợ tài chính bổ sung cho Ukraine đang giảm mạnh. Và xin đừng yêu cầu họ mang giày lính và trực tiếp chiến đấu.
Sự trớ trêu nằm ở chỗ: bất chấp mọi vấn đề, các nhà lãnh đạo châu Âu coi chiến tranh là cách để đánh lạc hướng khỏi những cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn. Nếu hòa bình xảy ra, chẳng hạn, EU sẽ phải cải cách Chính sách Nông nghiệp Chung phi lý, chuyển nguồn tiền từ nông dân Pháp sang Ukraine. Việc chi tiêu phóng tay sẽ khó biện minh hơn theo những cách khác. EU đã gạt bỏ các quy tắc tài khóa để tạo không gian cho chi tiêu quốc phòng. Không có chiến tranh, thâm hụt ngân sách sẽ khó mà biện hộ. Chiến tranh là cái cớ tối thượng cho các chính sách thất bại, giúp duy trì các chính phủ rối loạn chức năng và trì hoãn thời khắc phải đối mặt với thực tế.
Giống như nhiều người cùng thế hệ với tôi, tôi từng nghĩ rằng người châu Âu đã rút ra bài học từ những sai lầm trong quá khứ – bao gồm sai lầm cổ xưa nhất. Như Tôn Tử, nhà chiến lược quân sự huyền thoại Trung Hoa, đã cảnh báo cách đây khoảng 2.500 năm: nếu “không biết địch cũng chẳng biết mình, thì trong mọi trận đánh đều sẽ thất bại.” (Bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại) Đáng tiếc là chúng ta liên tục đánh giá quá cao bản thân và đánh giá thấp đối thủ. Putin ban đầu cũng đánh giá thấp kẻ thù của mình với một cuộc tấn công nghiệp dư vào Kyiv. Nhưng ông ta đã phục hồi, và người Nga hiện đang tiến hành một cuộc chiến được tổ chức tốt, được tài trợ đầy đủ và có trọng tâm rõ ràng. Và có lẽ các chiến lược gia của ông ta sẽ kết luận rằng bây giờ là thời điểm thích hợp để phát động một cuộc chiến lai mở rộng chống lại châu Âu. Putin còn gì để mất?
Trong khi đó, những phán đoán sai lầm của chúng ta vẫn tiếp diễn. Giống như Napoleon và Hitler từng đánh giá thấp quy mô khổng lồ của Nga và mùa đông băng giá, các chính trị gia châu Âu đương đại tiếp tục xem nhẹ khả năng chống chịu kinh tế của nước Nga hiện đại. Sai lầm đầu tiên xảy ra ngay từ đầu cuộc chiến, khi chúng ta tin rằng có thể làm Nga kiệt quệ về kinh tế bằng các lệnh trừng phạt. Chúng ta đã tự lừa dối mình bằng những thống kê gây hiểu lầm sâu sắc, theo đó GDP của Nga được cho là xấp xỉ Tây Ban Nha. Nhưng trong chiến tranh, điều quan trọng là sức mua thực tế – đúng nghĩa là “đáng đồng tiền”. Theo thước đo đó, Moskva chi tiêu cho quốc phòng nhiều hơn gấp đôi Đức, và hiệu quả hơn rất nhiều. Trong khi các chuyên gia khẳng định nền kinh tế Nga sắp sụp đổ, không có dấu hiệu nào cho thấy điều đó đang xảy ra. Tương tự, một số luật sư quốc tế tiếp tục cho rằng việc tịch thu tài sản Nga là không có rủi ro. Ở đây có một khuôn mẫu – và nó có thể dẫn đến thảm họa cả về của cải lẫn máu xương.
Ngược lại, những nhà hiện thực địa chính trị của các thế hệ trước, như Henry Kissinger hay George Kennan, nhà ngoại giao huyền thoại của Mỹ thời hậu chiến, có hiểu biết sâu sắc hơn nhiều về chính trị giữa các siêu cường. Không ai từng cáo buộc Kissinger là mềm mỏng với Liên Xô. Nhưng ông cũng không phải là kẻ hiếu chiến luôn lên nòng sẵn.
Ngày đó, người Mỹ duy trì các kênh ngoại giao với Nga. Và họ không sa đà vào việc phô trương đạo đức hình thức về pháp quyền. Công việc của họ là quản lý rủi ro – và họ đã làm điều đó một cách xuất sắc. Điều ngày càng rõ ràng là Chính quyền Trump không quan tâm đến quản lý rủi ro, mà theo đuổi lợi ích thương mại ngắn hạn.
Greenland có thể sẽ là mục tiêu tiếp theo. Các trữ lượng đất hiếm khổng lồ, phần lớn chưa được thăm dò, cùng với vị trí chiến lược khiến hòn đảo này trở thành mục tiêu hiển nhiên. Thực tế, Trump đã đặt nền móng thông qua Chiến lược An ninh Quốc gia và việc bổ nhiệm một đặc phái viên phụ trách việc “mua lại” nó. Quyền sở hữu Greenland sẽ tăng cường đáng kể vị thế của Mỹ ở Bắc Băng Dương, một khu vực có tầm quan trọng chiến lược ngày càng lớn mà châu Âu hầu như đã bỏ qua.
Canada cũng không miễn nhiễm: Trump đã xác định nước này là một mối đe dọa an ninh. Canada cũng tình cờ sở hữu 163 tỷ thùng dầu đã được chứng minh, xếp thứ tư toàn cầu theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, sau Venezuela, Saudi Arabia và Iran. Khi Mỹ ngày càng phụ thuộc vào dầu mỏ cho nhu cầu năng lượng, việc “thâu tóm” Venezuela và Canada sẽ hoàn toàn hợp lý về mặt thương mại, nếu không muốn nói là chiến lược.
Nghe thì điên rồ, tôi biết. Nhưng nó phản ánh một thực tế địa chính trị khi mà rủi ro không còn được quản lý và ngoại giao bị gạt sang một bên. Thế giới Chiến tranh Lạnh an toàn hơn, không phải vì tình hình khi đó an toàn, mà vì những người trưởng thành đang nắm quyền. ■
unherd.com
(Trần Kiên dịch)
2026 có trở thành một năm chiến tranh? Các phạm vi ảnh hưởng đang dần củng cố
5/1/2026
Năm 2026 có thể là năm đầu tiên trong cuộc đời tôi mà xác suất xảy ra một cuộc chiến tranh quy mô lớn hơn ở châu Âu không còn là điều nhỏ nhặt: và các rủi ro vừa mới gia tăng. Cuộc can thiệp của Donald Trump vào Venezuela và việc bắt giữ Nicolás Maduro là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy địa chính trị đã quay trở lại học thuyết Chiến tranh Lạnh về các phạm vi ảnh hưởng. Đối với Mỹ, ưu tiên của họ là Tây Bán Cầu. Phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc trải dài tới Đài Loan, còn của Nga là Ukraine và các khu vực khác thuộc Liên Xô cũ. Khi sự chú ý của Mỹ hướng sang nơi khác, và Putin được khích lệ, khả năng cuộc chiến này tiếp diễn đang tăng lên.
Trong thời Chiến tranh Lạnh của tuổi trẻ tôi, luôn tồn tại nguy cơ xung đột ngoài ý muốn. Nhưng cả Mỹ lẫn Liên Xô đều được điều hành bởi những người nỗ lực ngăn điều đó xảy ra. Ngay cả trong những cuộc khủng hoảng căng thẳng nhất, ngoại giao vẫn chiếm ưu thế.
Giờ thì mọi thứ hoàn toàn khác. Ở cả hai bờ Đại Tây Dương, tại Nga và khắp Tây Âu, tôi thấy một sự sẵn sàng về mặt ngôn từ cho xung đột vũ trang ở quy mô chưa từng thấy. “Nga đã đưa chiến tranh trở lại châu Âu,” Mark Rutte, Tổng Thư ký NATO, gần đây tuyên bố, đồng thời nói thêm rằng “chúng ta phải chuẩn bị cho quy mô chiến tranh mà ông bà và cụ kỵ của chúng ta từng trải qua.” Trong khi đó, Thống chế Không quân Anh Sir Richard Knighton nói rằng tình hình nguy hiểm hơn bất kỳ thời điểm nào trong sự nghiệp của ông: “Con trai và con gái. Đồng nghiệp. Cựu binh… tất cả đều sẽ phải đóng vai trò của mình – để xây dựng, để phục vụ, và nếu cần thiết, để chiến đấu.” Về phần mình, người đứng đầu Cơ quan Tình báo Liên bang Đức đã cảnh báo rằng Nga có thể tấn công châu Âu trước khi thập kỷ này kết thúc.
Nếu cuộc chiến với Nga xảy ra, nó sẽ không chỉ vì Trump đã khích lệ Putin, mà còn vì chúng ta đã để tình hình ở Ukraine vượt khỏi tầm kiểm soát. Sự ủng hộ của chúng ta là một chuỗi những phán đoán sai lầm. Khi mọi người khoác lên mình lá cờ Ukraine vào năm 2022, các “chuyên gia” tự xưng đã tỏ ra hăng hái một cách đáng kinh ngạc về chiến thắng cuối cùng của Kyiv. Các tướng lĩnh nghỉ hưu cạnh tranh nhau đưa ra dự đoán Ukraine sẽ hoàn thành nhiệm vụ nhanh đến mức nào — hai tuần, một người suy đoán. Giờ đây, chúng ta đã gần bốn năm bước vào cuộc xung đột, và với tư cách là thành viên của cái gọi là “liên minh tự nguyện”, chúng ta – người châu Âu – đã khuyến khích Ukraine chiến đấu đến cùng, dù không có cơ hội chiến thắng.
Giờ đây, hoàn toàn có khả năng Nga sẽ chiếm đóng nhiều hơn bốn tỉnh mà họ đang nhắm tới, và Ukraine mất đi nền độc lập. Được khích lệ bởi chiến thắng, Nga có thể sẽ tìm kiếm nhiều hơn nữa. Ở phía bên kia, một số người châu Âu thậm chí tìm cách thay đổi chế độ ở Nga. Để trích lời Kaja Kallas, Đại diện Cấp cao của EU về chính sách đối ngoại và an ninh: “không phải là điều xấu nếu cường quốc lớn đó thực sự trở nên nhỏ hơn.”
Chúng ta đã từng trải qua điều này. Trước Thế chiến thứ nhất, thanh niên Đức và Áo-Hung cũng háo hức với chiến tranh, giống như nhiều người châu Âu ngày nay. Người Đức ghen tị với ông bà của họ, những người từng tham gia các trận đánh “vinh quang” trong Chiến tranh Pháp–Phổ 44 năm trước đó. Khi ấy cũng như bây giờ, giới chính trị và quân sự đã đánh giá thấp mức độ khó khăn của chiến tranh.
Tuy nhiên, có một khác biệt lớn. Năm 1914, các đạo quân châu Âu ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Một chiến thắng của Đức và Áo-Hung ít nhất là có thể hình dung được. Ngày nay, Ukraine không còn khả năng thắng cuộc chiến, cũng như Tây Âu – nếu không có sự trợ giúp của Mỹ – không thể đánh bại Nga.
Cuộc xung đột châu Âu mở rộng này không nhất thiết sẽ là một cuộc chiến trên bộ cổ điển. Tôi không tin rằng Putin có kế hoạch xâm lược Tây Âu như các quan chức an ninh tuyên bố. Nỗi lo lớn nhất của tôi là chiến tranh lai: máy bay nổ tung trên sân bay Heathrow; một vụ nổ tại nhà ga đông đúc ở Đức; hoặc thậm chí một vụ nổ hạt nhân dưới nước gây ra sóng thần. Brussels, với tư cách là nơi đặt trụ sở của NATO và EU, đặc biệt dễ bị tổn thương. Và bất kỳ phản ứng nào trước những hành động khiêu khích như vậy đều có thể nhanh chóng leo thang.
Đây là loại hình chiến tranh mà người châu Âu ít được chuẩn bị nhất. Các chuyên gia an ninh phương Tây coi chiến tranh lai là thứ hạng thấp, dành cho những kẻ “kém văn minh” như người Nga. Nhưng nó chết chóc, và chúng ta là những nạn nhân lý tưởng. Chúng ta sống trong không gian chật hẹp, phụ thuộc vào hạ tầng và công nghệ trọng yếu. Và từ góc nhìn của Nga, những cuộc tấn công như vậy sẽ không kích hoạt điều khoản phòng thủ tập thể của NATO. Tại sao phải xâm lược Estonia, nếu có thể gieo rắc hỗn loạn hoàn toàn tại các thủ đô châu Âu, trong khi vẫn duy trì được khả năng phủ nhận hợp lý?
Vương quốc Anh không phải không nhận thức được điều này. Tháng 11, Ủy ban Quốc phòng của Hạ viện cảnh báo rằng chính phủ Anh đang hành động “chậm như băng trôi” trong việc triển khai “Chương trình Phòng thủ Nội địa”, một chiến lược mới về khả năng chống chịu và an ninh quốc gia nhằm bảo vệ đất nước trước các rủi ro nghiêm trọng, bao gồm cả các cuộc tấn công phi truyền thống. Thế nhưng chương trình này đã bị trì hoãn hơn một năm, ngay cả khi các nhà lãnh đạo Anh đang tuyệt vọng đẩy cao giọng điệu chiến tranh.
Tuy nhiên, ngày càng rõ ràng rằng các hệ thống chính trị của chúng ta còn lâu mới sẵn sàng cho một cuộc chiến. Anh, Đức và Pháp đều không sẵn sàng chi trả cho việc hỗ trợ Ukraine từ ngân sách của chính mình, cũng như không muốn tăng thuế. Đây là lý do vì sao họ rất háo hức sử dụng các tài sản Nga bị đóng băng trong các ngân hàng châu Âu. Giờ đây, khi Bỉ – quốc gia nơi phần lớn tài sản được giữ – đã chặn đứng vụ “cướp” này, các chính trị gia châu Âu sẽ phải thực sự bỏ tiền túi ra.
Vấn đề là cử tri của họ sẽ không cho phép. Cử tri châu Âu không sẵn sàng từ bỏ phúc lợi xã hội để tài trợ cho chiến tranh, và các cuộc thăm dò liên tục cho thấy sự ủng hộ đối với viện trợ tài chính bổ sung cho Ukraine đang giảm mạnh. Và xin đừng yêu cầu họ mang giày lính và trực tiếp chiến đấu.
Sự trớ trêu nằm ở chỗ: bất chấp mọi vấn đề, các nhà lãnh đạo châu Âu coi chiến tranh là cách để đánh lạc hướng khỏi những cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn. Nếu hòa bình xảy ra, chẳng hạn, EU sẽ phải cải cách Chính sách Nông nghiệp Chung phi lý, chuyển nguồn tiền từ nông dân Pháp sang Ukraine. Việc chi tiêu phóng tay sẽ khó biện minh hơn theo những cách khác. EU đã gạt bỏ các quy tắc tài khóa để tạo không gian cho chi tiêu quốc phòng. Không có chiến tranh, thâm hụt ngân sách sẽ khó mà biện hộ. Chiến tranh là cái cớ tối thượng cho các chính sách thất bại, giúp duy trì các chính phủ rối loạn chức năng và trì hoãn thời khắc phải đối mặt với thực tế.
Giống như nhiều người cùng thế hệ với tôi, tôi từng nghĩ rằng người châu Âu đã rút ra bài học từ những sai lầm trong quá khứ – bao gồm sai lầm cổ xưa nhất. Như Tôn Tử, nhà chiến lược quân sự huyền thoại Trung Hoa, đã cảnh báo cách đây khoảng 2.500 năm: nếu “không biết địch cũng chẳng biết mình, thì trong mọi trận đánh đều sẽ thất bại.” (Bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại) Đáng tiếc là chúng ta liên tục đánh giá quá cao bản thân và đánh giá thấp đối thủ. Putin ban đầu cũng đánh giá thấp kẻ thù của mình với một cuộc tấn công nghiệp dư vào Kyiv. Nhưng ông ta đã phục hồi, và người Nga hiện đang tiến hành một cuộc chiến được tổ chức tốt, được tài trợ đầy đủ và có trọng tâm rõ ràng. Và có lẽ các chiến lược gia của ông ta sẽ kết luận rằng bây giờ là thời điểm thích hợp để phát động một cuộc chiến lai mở rộng chống lại châu Âu. Putin còn gì để mất?
Trong khi đó, những phán đoán sai lầm của chúng ta vẫn tiếp diễn. Giống như Napoleon và Hitler từng đánh giá thấp quy mô khổng lồ của Nga và mùa đông băng giá, các chính trị gia châu Âu đương đại tiếp tục xem nhẹ khả năng chống chịu kinh tế của nước Nga hiện đại. Sai lầm đầu tiên xảy ra ngay từ đầu cuộc chiến, khi chúng ta tin rằng có thể làm Nga kiệt quệ về kinh tế bằng các lệnh trừng phạt. Chúng ta đã tự lừa dối mình bằng những thống kê gây hiểu lầm sâu sắc, theo đó GDP của Nga được cho là xấp xỉ Tây Ban Nha. Nhưng trong chiến tranh, điều quan trọng là sức mua thực tế – đúng nghĩa là “đáng đồng tiền”. Theo thước đo đó, Moskva chi tiêu cho quốc phòng nhiều hơn gấp đôi Đức, và hiệu quả hơn rất nhiều. Trong khi các chuyên gia khẳng định nền kinh tế Nga sắp sụp đổ, không có dấu hiệu nào cho thấy điều đó đang xảy ra. Tương tự, một số luật sư quốc tế tiếp tục cho rằng việc tịch thu tài sản Nga là không có rủi ro. Ở đây có một khuôn mẫu – và nó có thể dẫn đến thảm họa cả về của cải lẫn máu xương.
Ngược lại, những nhà hiện thực địa chính trị của các thế hệ trước, như Henry Kissinger hay George Kennan, nhà ngoại giao huyền thoại của Mỹ thời hậu chiến, có hiểu biết sâu sắc hơn nhiều về chính trị giữa các siêu cường. Không ai từng cáo buộc Kissinger là mềm mỏng với Liên Xô. Nhưng ông cũng không phải là kẻ hiếu chiến luôn lên nòng sẵn.
Ngày đó, người Mỹ duy trì các kênh ngoại giao với Nga. Và họ không sa đà vào việc phô trương đạo đức hình thức về pháp quyền. Công việc của họ là quản lý rủi ro – và họ đã làm điều đó một cách xuất sắc. Điều ngày càng rõ ràng là Chính quyền Trump không quan tâm đến quản lý rủi ro, mà theo đuổi lợi ích thương mại ngắn hạn.
Greenland có thể sẽ là mục tiêu tiếp theo. Các trữ lượng đất hiếm khổng lồ, phần lớn chưa được thăm dò, cùng với vị trí chiến lược khiến hòn đảo này trở thành mục tiêu hiển nhiên. Thực tế, Trump đã đặt nền móng thông qua Chiến lược An ninh Quốc gia và việc bổ nhiệm một đặc phái viên phụ trách việc “mua lại” nó. Quyền sở hữu Greenland sẽ tăng cường đáng kể vị thế của Mỹ ở Bắc Băng Dương, một khu vực có tầm quan trọng chiến lược ngày càng lớn mà châu Âu hầu như đã bỏ qua.
Canada cũng không miễn nhiễm: Trump đã xác định nước này là một mối đe dọa an ninh. Canada cũng tình cờ sở hữu 163 tỷ thùng dầu đã được chứng minh, xếp thứ tư toàn cầu theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, sau Venezuela, Saudi Arabia và Iran. Khi Mỹ ngày càng phụ thuộc vào dầu mỏ cho nhu cầu năng lượng, việc “thâu tóm” Venezuela và Canada sẽ hoàn toàn hợp lý về mặt thương mại, nếu không muốn nói là chiến lược.
Nghe thì điên rồ, tôi biết. Nhưng nó phản ánh một thực tế địa chính trị khi mà rủi ro không còn được quản lý và ngoại giao bị gạt sang một bên. Thế giới Chiến tranh Lạnh an toàn hơn, không phải vì tình hình khi đó an toàn, mà vì những người trưởng thành đang nắm quyền. ■
Will 2026 be a year of war?
(Trần Kiên dịch)


