Chắc chắn đây ko phải lần đầu.
Lần này chủ quan nên mới lộ
Mà chắc ko chỉ Tuyên Quang.
Tóm lại kỳ thi 2 trong 1 này ko ổn tý nào
Muốn giải quyết gốc rễ vấn đề ta phải ngược dòng thời gian về nhưng năm trước 2015 và nhìn lại toàn bộ bối cảnh đó và đã có quyết định ko hiệu quả khi hợp nhất 2 kỳ thi làm 1. Khi hợp nhất hai kỳ thi:
Một kỳ thi tiêu cưc hàng chục năm nay + Kỳ Thi Nghiêm túc hàng chúc năm nay ====> ra sản phẩm là một kỳ thi tiêu cực.
Chắc hẳn đây không phải là lần đầu xảy ra những chuyện như vậy. Chỉ là lần này, do chủ quan, nên mới bị phát hiện. Và cũng khó tin rằng lỗ hổng chỉ tồn tại riêng ở Tuyên Quang. Nhìn rộng ra, những gì đang diễn ra chỉ cho thấy kỳ thi “2 trong 1” đã bộc lộ rất nhiều bất cập ngay từ khi được triển khai trong cả một quãng thời gian dài hơn 10 năm là xói mòn nguồn nhân lực quốc gia.
Từ năm 2015, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo gộp kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi tuyển sinh đại học thành một, hệ thống bắt đầu phát sinh hàng loạt vấn đề. Hệ quả lớn nhất không nằm ở khâu thi cử, mà ở chỗ các trường đại học dần mất quyền chủ động trong việc lựa chọn sinh viên đầu vào.
Hãy hình dung đơn giản:
một doanh nghiệp muốn tuyển người tài nhưng lại không được trực tiếp phỏng vấn hay kiểm tra năng lực, mà buộc phải dựa hoàn toàn vào kết quả đánh giá của một bên thứ ba. Làm sao họ có thể chắc chắn mình tuyển đúng người? Các trường đại học hiện nay cũng đang ở trong tình cảnh tương tự.
Trên báo đang chia sẻ câu chuyện một giảng viên từng chia sẻ: trước năm 2015, mỗi năm Đại học Ngoại thương chỉ tuyển được vài học sinh xuất sắc từ các tỉnh miền núi. Thế nhưng sau khi dùng chung kết quả kỳ thi tốt nghiệp để xét tuyển, có năm nhà trường phải huy động cả xe 45 chỗ lên đón tân sinh viên từ những địa phương này. Vậy đó là tín hiệu đáng mừng hay đáng lo, nó có phản ảnh đúng chất lượng giáo dục được nâng lên ?.
Vì sao lại có kỳ thi “2 trong 1”? Để hiểu rõ câu chuyện hôm nay, cần nhìn lại bối cảnh hơn mười năm trước.
- Trước năm 2015, tiêu cực trong kỳ thi tốt nghiệp THPT ở một số địa phương đã tồn tại từ lâu. Bộ Giáo dục và Đào tạo chắc chắn nhận thức được vấn đề, nhưng với tư cách cơ quan quản lý, việc công khai thừa nhận toàn bộ bất cập của hệ thống không phải là điều dễ dàng.
- Đến giai đoạn 2014-2015, khi bàn ý tưởng về việc gộp hai kỳ thi,
nhiều trường đại học lớn đã bày tỏ lo ngại. Họ sợ rằng nếu không còn kỳ thi tuyển sinh riêng, việc kiểm soát chất lượng đầu vào sẽ trở nên rất khó khăn.
Trong khi đó, tại Quốc hội, Bộ phải đối mặt với áp lực rất lớn.
Lúc ấy, đa số đại biểu là người từ các tỉnh, thành, nhiều người đang giữ vai trò lãnh đạo địa phương và trực tiếp chịu trách nhiệm trước cử tri. Họ mang theo một đòi hỏi thực tế: con em tỉnh mình cũng phải có cơ hội vào đại học, dù học lực chưa thật sự nổi trội. Tâm lý ấy dễ hiểu, nhưng khi trở thành áp lực chính sách thì lại tạo sức ép rất lớn lên Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các trường đại học.
Nhiều đại biểu đề xuất gộp hai kỳ thi với các lý do hợp lý: tiết kiệm ngân sách, giảm chi phí cho người dân, giúp học sinh không phải đi xa dự thi. Những lại bỏ qua cái vế quan trọng nhất là kỳ thi Tốt nghiệp do Địa phương tổ chức là có truyền thống tiêu cực, nặng thành tích và ko kiểm soát được chất lượng ( trừ năm 2007 )
Trước sức ép đó, việc hợp nhất hai kỳ thi gần như trở thành lựa chọn khó tránh khỏi.
Tuy nhiên, sau khi triển khai, một vấn đề mới lại nảy sinh. Bộ chịu trách nhiệm ra đề, nhưng việc coi thi và chấm thi chủ yếu do các địa phương thực hiện. Nơi tổ chức dạy học đồng thời là nơi đánh giá kết quả. Khi thiếu cơ chế giám sát độc lập đủ mạnh, nguy cơ tiêu cực là điều đã được nhiều người cảnh báo từ trước.
Đại án gian lận điểm thi năm 2018 tại Hà Giang, Sơn La và Hòa Bình chính là minh chứng đau lòng nhất. Vụ việc không chỉ làm méo mó kết quả kỳ thi, mà còn khiến niềm tin của xã hội vào sự công bằng của giáo dục bị tổn thương nghiêm trọng.
Đã đến lúc trả lại quyền tự chủ cho các trường đại học?
Bối cảnh hiện nay đã rất khác Việt Nam đang hướng tới phát triển những ngành đòi hỏi trình độ cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ cao và năng lượng mới. Muốn thành công, điều kiện tiên quyết là phải có nguồn nhân lực chất lượng thực sự. Không thể xây dựng nền khoa học - công nghệ mạnh nếu đầu vào của hệ thống giáo dục đại học vẫn tồn tại những nghi ngại về tính trung thực và công bằng.
Theo tôi, đã đến lúc cần trao nhiều quyền tự chủ hơn cho các trường đại học trong công tác tuyển sinh. Nhà nước vẫn có thể tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT để đánh giá việc hoàn thành chương trình phổ thông, nhưng các trường đại học nên được quyền lựa chọn phương thức tuyển sinh phù hợp với mục tiêu đào tạo của mình.
Điều này cũng giống như các doanh nghiệp lớn luôn tự xây dựng quy trình tuyển dụng riêng để tìm đúng người phù hợp, thay vì chỉ dựa vào một tấm bằng hay một bảng điểm.
Tôi tin rằng đây cũng chính là điều Bác Tổng đã sớm nhìn ra. Với tâm huyết vì sự nghiệp đổi mới và tương lai lâu dài của đất nước, con đường đúng đắn không thể là tiếp tục duy trì một cơ chế tuyển sinh đã bộc lộ quá nhiều bất cập. Muốn có giáo dục thực chất, muốn đào tạo được những con người đủ năng lực cho những mục tiêu phát triển lớn của quốc gia, thì bắt buộc phải trả lại quyền tự chủ tuyển sinh cho các trường đại học.
Khi các trường được tự chịu trách nhiệm về chất lượng đầu vào, họ sẽ có động lực mạnh mẽ để nâng cao chất lượng đào tạo và bảo vệ uy tín của chính mình. Đó mới là nền tảng bền vững để giáo dục Việt Nam đào tạo ra những kỹ sư, nhà khoa học và chuyên gia thực sự có năng lực, đáp ứng được những mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.