• [Thông báo] Diễn đàn tạm thời chuyển tên miền từ OTOFUN.NET sang tên miền OTOFUN.NET.VN.

[Funland] Giới thiệu bản dịch sách Lịch sử: An Nam sứ sự kỷ yếu-1669.

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
HÀNH TRÌNH NGOẠI GIAO VÀ NHỮNG TRANG SỬ CHƯA KỂ

Năm 1669, dưới triều vua Lê Huyền Tông và chúa Trịnh Tạc, biên giới Đại Việt – Trung Hoa dậy sóng bởi một cuộc khủng hoảng ngoại giao căng thẳng xoay quanh vùng đất Cao Bằng và tàn dư nhà Mạc. Giữa lúc thế cân bằng mong manh, hai sứ thần Thanh triều là Lý Tiên Căn (Chánh sứ) và Dương Triệu Kiệt (Phó sứ) đã vượt ải Nam Quan, bước vào Thăng Long mang theo một sứ mệnh tưởng chừng như không thể: Buộc triều đình Lê – Trịnh rút quân và trả lại đất đai cho Mạc Nguyên Thanh.
Kết quả của sứ mệnh lịch sử ấy không chỉ là một hiệp ước hòa bình, mà còn là sự ra đời của một cuốn ký sự ngoại giao vô giá: An Nam Sứ Sự Kỷ Yếu 安南使事紀要.
Ra đời cách đây hơn 350 năm, An Nam Sứ Sự Kỷ Yếu không phải là một bộ chính sử khô khan được biên soạn bởi các sử quan trong triều, mà là một cuốn hồi ký ngoại giao sống động, được viết bởi chính những người trong cuộc. Cuốn sách ghi lại từng hơi thở, từng toan tính, và cả những cảm xúc chân thực nhất của sứ thần nhà Thanh trong suốt 70 ngày đàm phán đầy kịch tính tại Đại Việt.
Góc nhìn "Bên kia tấm gương": Lịch sử Việt Nam thường được ghi chép từ góc nhìn của triều đình Lê – Trịnh. An Nam Sứ Sự Kỷ Yếu mở ra một cánh cửa hiếm hoi để chúng ta nhìn nhận sự kiện từ phía đối diện: Cách nhà Thanh đánh giá thực lực, tính cách, và cấu trúc quyền lực "Vua Lê – Chúa Trịnh" của Đại Việt ra sao?
Giáo trình về nghệ thuật đàm phán đỉnh cao: Cuốn sách là một minh chứng cho nghệ thuật "ngoại giao cây gậy và củ cà rốt". Người đọc sẽ được chứng kiến cách các sứ thần nhà Thanh vận dụng linh hoạt từ đe dọa quân sự ("quận huyện hóa", "tề phấn"), dùng điển cố kinh điển (Xuân Thu, Công Dương), cho đến những đòn tâm lý tinh vi (ví von "khỉ bắt quả", "trả một quân Xe"), và cả nghệ thuật "giữ thể diện" để buộc đối phương xuống thang.
Bên cạnh những tranh luận chính trị, tác giả còn ghi chép tỉ mỉ về phong tục, tập quán, khí hậu, và cả những quan sát sắc sảo (đôi khi mang định kiến) về đời sống người Việt thế kỷ 17. Đặc biệt là lời bình phẩm nổi tiếng bằng 4 chữ: "Ngu, Nghi, Trá, Ngạo", phản ánh chân thực sự bế tắc và những va chạm văn hóa sâu sắc thời bấy giờ.
Có những hiện tượng thời tiết hay tự nhiên rất đáng chú ý: từ những cơn mưa tuyết trái mùa ở Thăng Long, giấc mơ đẩy sập bức tường đất của Chánh sứ, cho đến những giây phút căng thẳng khi vua Lê cố tình làm sai lệch nghi lễ tiếp chiếu thư... tất cả tạo nên một bức tranh lịch sử đa chiều, sống động và đầy tính nhân văn.
Về bản dịch và hiệu đính này:
Văn bản gốc của An Nam Sứ Sự Kỷ Yếu hiện còn lưu giữ dưới dạng bản chép tay hoặc các bản in cổ, trải qua thời gian và quá trình số hóa, không tránh khỏi những sai sót, mờ nhòe hoặc lỗi nhận diện ký tự (OCR) nghiêm trọng, khiến nhiều đoạn văn trở nên rời rạc, khó hiểu.
Với mong muốn đưa di sản này đến gần hơn với độc giả hiện đại, bản dịch trong cuốn sách này không chỉ dừng lại ở việc chuyển ngữ. Chúng tôi đã dành nhiều tâm sức để đối chiếu, hiệu đính và khôi phục lại mạch văn dựa trên logic lịch sử và văn phong ngoại giao thời Lê – Thanh. Hệ thống chú thích chi tiết được bổ sung nhằm giải mã các điển cố, nhân danh, địa danh và những thuật ngữ chính trị phức tạp, giúp người đọc không cần có kiến thức chuyên sâu về Hán Nôm vẫn có thể thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa của từng trang sách.
An Nam Sứ Sự Kỷ Yếu không chỉ là câu chuyện của quá khứ, mà còn là bài học sâu sắc về nghệ thuật giữ nước, về sự khôn khéo trong ứng xử giữa các cường quốc, và về giá trị của hòa bình.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng độc giả. Mong rằng, khi lật mở từng trang sách, quý vị sẽ cảm nhận được hơi thở của lịch sử và sự rung động trước trí tuệ của cha ông trong những thời khắc khó khăn của vận mệnh dân tộc.
-------------------
Trong sách, nhiều lần tác giả trên quan điểm người Trung Quốc, có những ngôn từ coi thường người Việt, hoặc gọi một cách láo xược, vì vậy có những chỗ người dịch lược bớt, hoặc không thể bỏ thì cũng mong người đọc thông cảm vì đây là một văn bản dịch để tham khảo.
 
Chỉnh sửa cuối:

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Bìa sách

Screenshot (238).png
Screenshot (239).png
Screenshot (240).png
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Lời người dịch
An Nam Sứ Sự Kỷ Yếu nghĩa là: Ghi chép về sứ bộ sang An Nam do sứ thần nhà Thanh là Lý Tiên Căn và Dương Triệu Kiệt soạn năm 1669. Đây là bản chép tay cũ, từng được dâng lên triều đình nhà Thanh và sau này thuộc bộ sưu tập của thư viện tư nhân nổi tiếng Gia Nghiệp Đường.
Sách gồm 4 quyển, là một tư liệu rất quý giá về lịch sử ngoại giao Việt - Trung. Đây là cuốn sách ghi chép lại hành trình và công việc của sứ bộ nhà Thanh sang Đại Việt (lúc đó gọi là An Nam) vào thời vua Lê Huyền Tông (nhà Lê Trung Hưng). Tác giả là Lý Tiên Căn 李仙根, người huyện Toại An (tỉnh Tứ Xuyên). Ông giữ chức Thị độc học sĩ, được cử làm Chánh sứ và Dương Triệu Kiệt 楊兆傑người huyện Hoàng Pha (tỉnh Hồ Bắc) giữ chức Lại khoa cấp sự trung, được cử làm Phó sứ.
Năm Khang Hy thứ 22 (1668), nhà Thanh cử hai ông sang An Nam để truyền đạt sắc chỉ của vua Thanh là Khang Hy về việc trả lại đất Cao Bằng cho tàn dư của nhà Mạc là Mạc Nguyên Thanh cho vua Lê Huyền Tông (tên húy là Lê Duy Hi). Cuốn sách này ghi chép chi tiết về lộ trình, nghi lễ, thơ văn xướng họa giữa sứ thần Trung Quốc và quan lại Đại Việt thời đó.
Thời điểm 1669, vua Lê Huyền Tông 黎玄宗 (Lê Duy Hi) trị vì, nhưng thực quyền nằm trong tay chúa Trịnh Tạc 鄭柞 (Tây Định Vương 西定王). Những năm trị vì của Trịnh Căn, xã hội Đàng Ngoài tương đối ổn định. Họ Trịnh đã tiêu diệt được các thế lực nhà Mạc ở Cao Bằng và Chúa Bầu ở Tuyên Quang, nhưng chưa dứt chiến tranh với họ Nguyễn ở phía nam.
Nhà Thanh cũng thực hiện chính sách 2 mặt, một mặt vẫn ra tay cưu mang Mạc Nguyên Thanh [hay Mạc Kính Hẻ 莫敬喜, cũng có tên là Mạc Kính Thụy 莫敬瑞, là vị vua (không chính thức) của nhà Mạc thời hậu kỳ trong lịch sử Việt Nam. Nguyên quán Mạc Kính Hẻ là người xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Tuy nhiên, ông không được nhắc đến trong sử sách Việt Nam.Trong sử sách Việt Nam không thấy nhắc đến nhân vật này, nhưng theo sử nhà Thanh thì Mạc Kính Hẻ là con của Mạc Kính Diệu và là anh của Mạc Đức Tông Kính Quang. Năm 1661, nhà Thanh phong cho Mạc Kính Diệu làm Quy Hóa tướng quân. Đến tháng 12 cùng năm thì phong cho Mạc Nguyên Thanh làm An Nam Đô thống sứ. Năm 1677, Mạc Kính Vũ bị chúa Trịnh Tạc sai lực lượng mạnh do tướng Đinh Văn Tả đem quân đánh. Bị đánh bất ngờ, Mạc Kính Vũ chạy sang Long Châu (nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc). Hoàng đế Thanh Thánh Tổ Khang Hy sai bắt một số dư đảng nhà Mạc, trao trả cho quân Lê - Trịnh. Các dư đảng còn lại của nhà Mạc tôn Mạc Kính Hẻ lên ngôi tiếp tục chống nhà Lê. Sau khi lên làm vua năm 1677, Mạc Kính Hẻ liên tục phải đối phó với những đợt tấn công lớn của quân Lê - Trịnh. Lúc này, tướng Đinh Văn Tả vì có công đánh bại Mạc Kính Vũ nên được chúa Trịnh thưởng cho. Thấy họ Mạc vẫn còn cai trị Cao Bằng, Trịnh Tạc sai Đinh Văn Tả, tuổi đã cao, cùng với hơn 1 vạn quân lên đánh năm 1681. Biết quân mình quá yếu để chống cự, Mạc Kính Hẻ phải chạy sang Long Châu. Quân Lê - Trịnh tràn vào thành, đốt phá, chém giết không ngừng. Lúc này, nhiều tướng nhà Mạc đã chán nản, nên về hàng bên Lê - Trịnh hoặc từ chức bỏ về quê. Theo Thanh sử cảo, sau khi Mạc Kính Hẻ bị quân Lê - Trịnh đánh bại, các dư đảng nhà Mạc tôn em trai là Mạc Kính Quang lên làm vua. Kính Quang sai sứ sang nhà Thanh cầu phong, được Hoàng đế Khang Hy phong làm An Nam Đô thống sứ.
Mạc Kính Hẻ phải ở lại Long Châu và sống ở đó đến hết đời, không rõ ông bao nhiêu tuổi, thụy hiệu là Hoàn Thiên Thanh Địa Đoạt Văn Dương Vũ Huệ Đại Vương, miếu hiệu là Quý Tông, niên hiệu là Vĩnh Xương] mặt kia vẫn công nhận nhà Lê, sách đã cho ta biết điều đó.
Về phía nhà Lê-Trịnh, một mặt vẫn trọng thị tiếp sứ thần, mặt kia vẫn thăm dò ý tứ nhà Thanh, vì nội dung chiếu chỉ vẫn được sứ thần giữ kín, các quan Đại Việt chỉ đoán biết được nó liên quan đến nhà Mạc, điều mà các qua ta lo lắng là nhà Thanh có ý định đưa nhà Mạc trở lại nắm quyền ở vùng biên giới phía Bắc gồm: Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn.
Sách cho ta thấy cuộc đấu tranh có lúc rất căng thẳng giữa các quan Đại Việt và Lý Tiên Căn cùng Dương Triệu Kiệt, thậm chí đã có lúc mạt sát nhau. Sách cũng cho thấy lập trường kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia của triều đình Lê-Trịnh, sự lì lợm và đầy toan tính của sứ thần, sự gian xảo của Thanh triều, sự kém cỏi của Mạc Nguyên Thanh và cuối cùng, dù có sự can thiệp của nhà Thanh, và triều đình Đại Việt đã buộc phải chấp nhận là để họ Mạc tiếp tục được giữ Cao Bằng, nhưng rốt cuộc Mạc Nguyên Thanh cũng không về được nước và chết lưu vong bên Trung Quốc.
Qua những trang viết, ta còn thấy vua Lê Huyền Tông đã cố gắng “né tránh” cái nghi lễ “3 quỳ 9 lạy” sắc chỉ vua Thanh, nhằm giữ thể diện quốc gia, và đằng sau vua Lê, là bóng dáng chúa Trịnh Tạc trùm lên cả, đến ngay cả sứ Thanh cũng biết vua Lê chỉ là hư danh.
Các sứ thần cũng dành một phần ngắn để viết về xã hội Đàng Ngoài thời ấy, tất nhiên cũng ít nhiều có cái nhìn phiến diện, nhưng có những nhận xét đáng tham khảo.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Bài tựa do Chu Hữu Đức 周有德 viết
[Chu Hữu Đức 周有德 (, ?-1675). Quê: Hán Quân Tương Hoàng kỳ (người Hán nhập tịch Mãn Châu). Học vị Tiến sĩ, từng làm Học sĩ Nội Bí thư viện. Chức vụ khi viết tựa:
- Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông + Quảng Tây)
- Binh bộ Thượng thư
- Đô sát viện Hữu phó Đô ngự sử
- Gia hàm lục cấp (được thăng 6 bậc danh dự)]
Hoàng thượng cưỡi rồng ngự trị thiên hạ [乘龍御天 Thừa long ngự thiên: Hình ảnh ẩn dụ Hoàng đế như rồng bay giữa trời, cai trị thiên hạ], dùng đức nhu viễn để vỗ về vạn quốc [懷柔萬國 Hoài nhu vạn quốc: Chính sách ngoại giao "dùng đức để vỗ về", không dùng vũ lực], từ góc biển đến nơi mặt trời mọc, không nơi nào không quy phục. [海隅日出,罔不率俾: Trích từ Kinh Thư: "Từ góc biển đến nơi mặt trời mọc, không ai không tuân phục" — ca ngợi uy đức lan tỏa khắp thiên hạ].
Trước đây, vì nước Giao (An Nam) và họ Lê gây oán, họ Mạc đến quy thuận, nhưng thuộc quốc lại tự ý dùng binh, theo lẽ chính nghĩa đáng phải đem quân trừng phạt.Nhưng Hoàng thượng giữ lòng nhân sâu xa yêu chuộng sinh linh, có độ lượng rộng lớn như trời, bèn ban chiếu chỉ đức độ, khôi phục lại cương thổ cho họ, đặc biệt ra lệnh tuyển chọn người có tài năng, hiểu đại nghĩa, giỏi ngoại giao, cầm cờ tiết lên đường. [持節以行 Trì tiết dĩ hành: Cầm cờ tiết (biểu trưng quyền lực Hoàng đế) để đi sứ, thể hiện tư cách đại diện thiên tử].
Triều đình bàn bạc, đề cử Thị độc Lý công [Lý Tiên Căn] và Thượng thư bộ Binh Dương công [Dương Triệu Kiệt], Hoàng thượng chuẩn y, đích thân tiễn đưa tại điện, ân điển đặc biệt gia tăng. Hai vị vâng mệnh như sao chạy, vượt muôn dặm gian nan, hoàn thành sứ mệnh trở về, thật là tốt đẹp thay! [衘命星馳 Hàm mệnh tinh trì: Vâng mệnh như sao chạy — diễn tả sự khẩn trương, không quản gian nan]. [猗歟休哉 Y dư hưu tai: Than từ ca ngợi: "Ôi, thật tốt đẹp thay!" — lối văn biền ngẫu trang trọng.]
Nghe nói việc đi sứ có chỉ dụ rõ ràng, lại nghe nói đại phu ra khỏi biên cương, nếu có lợi cho quốc gia thì có thể tự quyết. Chuyến đi này, làm sáng tỏ nghĩa lý ở đất Sở Khâu, khôi phục nghiệp lớn ở đất Văn Dương — đó chính là mục đích của sứ bộ [楚丘之義,汶陽之業 Điển tích Xuân Thu: Nước Lỗ đòi lại đất Văn Dương và nghĩa lý ở Sở Khâu — ví việc sứ bộ khôi phục chính nghĩa, thu hồi lãnh thổ].Còn như nơi biên ải xa xôi, gian trá nổi lên như gió, ban đầu thì do dự nhận chiếu chỉ, sau lại tranh luận bất đồng, dùng văn cáo để tuyên thị, dùng lời lẽ để thuyết phục, qua lại ngàn lần, kéo dài ngày tháng — điều này không phải sứ thần có thể lường trước.
Hai vị dùng lễ để hành xử, dùng nghĩa để chỉnh đốn, bày tỏ thành tín để an ủi, phân tích lợi hại để cảnh tỉnh, thế là nơi xa xôi khiếp phục, oán thù hóa hòa bình, khôi phục nước mất, nối lại dòng tuyệt, danh tiếng chính nghĩa lan tỏa, không mang tiếng tự tiện chuyên quyền, phổ biến lợi ích của lời nhân đức — đó chính là lý do Xuân Thu ca ngợi người vương sứ có lời lẽ xứng đáng.
Quyết đoán cơ mưu giữa hai trận tuyến, chuyển đấu nghìn dặm — đó là việc của võ tướng. Chiến thắng trên chốn miếu đường, khuất phục đối phương trong tiệc rượu — đó là trách nhiệm của khanh đại phu. [折衝樽俎之間 (Chiết xung tôn trở chi gian): "Làm yếu địch ngay trên bàn tiệc" — ca ngợi tài ngoại giao khéo léo, không cần động binh].
Đất Nam Giao ba trăm năm qua, họ Lê soán ngôi họ Trần, họ Mạc soán ngôi họ Lê, họ Lê lại ép họ Mạc, người man di cừu sát lẫn nhau, tập tục vốn dĩ như vậy. Thời Vĩnh Lạc từng trừng phạt Quý Ly, thời Gia Tĩnh từng thử sức với Mạc Đăng Dung, cuối cùng châu Nhai bị bỏ [珠崖見棄: Thời Hán, châu Nhai (Hải Nam) nổi loạn, triều đình bàn bỏ đất ấy — ví việc dùng binh ở biên viễn thường tốn kém vô ích], người vàng phải thế thân [金人代身 Thời Minh, giữa Thanh, nhà Lê phải nộp người vàng thay thân của Liễu Thăng], mà việc hưng sư động chúng, thật là tốn kém vô ích, chính là cái gọi là "dùng chỗ dựa của mình để làm việc vô dụng".
[Vĩnh Lạc đại phá Quý Ly (1407): Nhà Minh mượn cớ "phù Lê diệt Hồ" để xâm chiếm Đại Việt.]
[Họ Mạc quy thuận: Năm 1592, nhà Lê-Trịnh đánh bại họ Mạc, Mạc Kính Cung chạy sang Long Châu (Quảng Tây) quy phục nhà Minh/Thanh.]
[Gia Tĩnh thử sức Mạc Đăng Dung (1540): Mạc Đăng Dung tự trói mình dâng biểu xin hàng, nhà Minh phong "An Nam Đô thống sứ" thay vì phong vương.]
Với thế mạnh toàn thịnh của quốc gia ta, với sức mạnh của văn võ bá quan, nghe tiếng trống trận, ai mà chẳng hăng hái muốn xông pha? Thế mà hai vị chỉ một lần ra đi, đã khiến quốc thể được tôn nghiêm, người xa quy phục, phong độ của mũ áo còn dũng cảm hơn giáp trụ, lời răn của kim thạch còn sắc bén hơn binh khí. Từ đó mới biết Trung triều có nhân tài, tin rằng văn chương thực sự có thể làm rạng rỡ quốc gia!
Đâu chỉ cần Giáng, Quán phá địch nơi tiền tuyến? [絳、灌 Giáng, Quán: Chu Bột (Giáng Hầu) và Quán Anh — danh tướng Hán sơ, ví võ công hiển hách]. Cũng đâu cần phải Trương, Trần, Cam, Phó mới xứng danh là sứ giả tuyệt vực? [張、陳、甘、傅: Trương Khiên, Trần Thang, Cam Diên Thọ, Phó Giới Tử — bốn danh sứ thời Hán, giỏi ngoại giao vùng Tây vực].
Kẻ hèn này bất tài, mang tội giữ đất Lưỡng Quảng, bôn tẩu nơi biên ải phía đông, không kịp nghỉ ngơi. Ngóng nhìn biên thùy phía tây, mong mãi vững như bàn thạch, nhờ vào hai vị, thực là đại hạnh.
Nhân dịp hai vị trở về triều, tôi xin hát chương đầu bài Hoàng Hoa [皇華 Hoàng Hoa: Tên một bài thơ trong Kinh Thi, ca ngợi sứ giả đi làm nhiệm vụ] để ca ngợi sự thành công của hai vị, không làm nhục mệnh vua. Lại hát chương cuối bài Giang Hán để ca tụng Hoàng thượng thấm nhuần văn đức, biết người và dùng người đúng đắn. [江漢 Giang Hán: Bài thơ trong Kinh Thi, ca ngợi văn đức của vua Chu Tuyên Vương].
Hoàng Thanh, năm Khang Hy thứ 8, kỷ Dậu (1669), giữa mùa Hạ
Tổng đốc Lưỡng Quảng... Chu Hữu Đức kính đề.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Giao Chỉ An Nam quốc đồ 交趾安南圖
Bản đồ này được vẽ theo quy ước cổ: Phía trên là hướng Tây/Tây Bắc (vùng núi biên giới với Trung Quốc), phía dưới là hướng Đông/Đông Nam (hướng ra biển).
1. Tiêu đề và chú thích tổng quan (Phía trên cùng và bên phải)
交趾安南圖 Giao Chỉ An Nam đồ: Bản đồ vùng Giao Chỉ An Nam (Việt Nam).
東西一千七百里,南北二千八百里Đông Tây nhất thiên thất bách lý, Nam Bắc nhị thiên bát bách lý: Chú thích chiều rộng Đông - Tây là 1.700 dặm, chiều dài Nam - Bắc là 2.800 dặm.
土司 Thổ ty: Vùng đất các tù trưởng dân tộc thiểu số cai quản ở biên giới phía Bắc.
東 廣東界 Đông - Quảng Đông giới: Phía Đông giáp ranh giới tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc).
2. Khu vực vùng cao biên giới (Phía trên bản đồ)
高平府 Cao Bình phủ: Phủ Cao Bình (tức vùng Cao Bằng ngày nay).
諒山府 Lạng Sơn phủ: Phủ Lạng Sơn (được vẽ biểu thị bằng một tòa thành lớn có cổng vòm ở phía trên bên phải).
同族城 Đồng Tộc thành: Thành Đồng Tộc (một tòa thành kiên cố vùng biên giới).
諒山道 Lạng Sơn đạo: Đạo Lạng Sơn.
3. Khu vực trung du và châu thổ sông Hồng (Giữa bản đồ)
宣光府 Tuyên Quang phủ: Phủ Tuyên Quang (được vẽ bằng tòa thành lớn phía trên bên trái).
太原府 Thái Nguyên phủ: Phủ Thái Nguyên.
富安府 Phú An phủ: Phủ Phú An.
北河府 Bắc Hà phủ: Phủ Bắc Hà.
寧朔道 Ninh Sóc đạo: Đạo Ninh Sóc (Ninh Sóc là tên một đạo/phủ thời xưa thuộc khu vực Thái Nguyên - Bắc Kạn).
三帶府 Tam Đới phủ: Phủ Tam Đới (vùng đất thuộc Vĩnh Phúc, Phú Thọ ngày nay).
臨安府 Lâm An phủ: Phủ Lâm An.
清華道 Thanh Hóa đạo: Đạo Thanh Hóa (được vẽ dịch về phía dải núi bờ cõi bên trái).
4. Khu vực hạ lưu và vùng duyên hải (Phía dưới bản đồ - hướng ra biển)
富良江 Phú Lương giang: Sông Phú Lương (tên cổ của đoạn Sông Hồng chảy qua Hà Nội).
順安府 Thuận An phủ: Phủ Thuận An (vùng đất thuộc Bắc Ninh, Hưng Yên ngày nay).
快州道 Khoái Châu đạo: Đạo Khoái Châu (vùng Hưng Yên ngày nay).
海陽道 Hải Dương đạo: Đạo Hải Dương.
上洪府 Thượng Hồng phủ & 下洪府 Hạ Hồng phủ: Phủ Thượng Hồng và phủ Hạ Hồng (vùng đất cổ nay thuộc tỉnh Hải Dương và Hải Phòng).
南策府 Nam Sách phủ: Phủ Nam Sách (thuộc Hải Dương ngày nay).
荊門府 Kinh Môn phủ: Phủ Kinh Môn (thuộc Hải Dương - Quảng Ninh ngày nay).
安 道 (An Bang đạo / 安邦道): Đạo An Bang (tên gọi thời Lê của vùng Quảng Ninh ngày nay).
太平府 Thái Bình phủ: Phủ Thái Bình.
建昌府 Kiến Xương phủ: Phủ Kiến Xương (thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay, nằm ở góc dưới cùng bên trái).
Bản đồ này phản ánh khá rõ hệ thống sông ngòi dày đặc (hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình) đổ ra vịnh Bắc Bộ (vẽ bằng các hình lượn sóng ở rìa dưới bản đồ).

download.png
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
國輿地圖 Quốc dư địa đồ — tức Bản đồ địa lý nước nhà (An Nam)
Screenshot (223).png

Quy ước phương hướng của bản đồ này đảo ngược lại: Phía trên là hướng Bắc/Tây Bắc (vùng núi biên giới), phía dưới là hướng Nam (vùng Thuận Hóa, Quảng Nam), bên phải là hướng Đông (biển) và bên trái là dải núi biên giới phía Tây.
1. Khu vực phía Bắc và trung du (Phía trên bản đồ)
高平府 Cao Bình phủ: Phủ Cao Bình (tức Cao Bằng). Ngay bên dưới có chú thích nhỏ: 交商成氏 (Giao thương Thành thị).
太原道 Thái Nguyên đạo: Đạo Thái Nguyên.
宣光府 Tuyên Quang phủ: Phủ Tuyên Quang.
興化道 Hưng Hóa đạo: Đạo Hưng Hóa (vùng Tây Bắc: Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai... ngày nay).
嘉興府 Gia Hưng phủ: Phủ Gia Hưng (vùng châu thổ thuộc Hưng Hóa xưa, nay thuộc Sơn La, Phú Thọ).
臨安府 Lâm An phủ & 鎮安府Trấn An phủ: Các phủ trấn biên giới phía Bắc.
2. Khu vực kinh đô và các phủ phụ cận (Giữa bản đồ)
海陽府 Hải Dương phủ: Phủ Hải Dương (nằm dịch về phía bên phải/phía Đông).
國威府 Quốc Oai phủ: Phủ Quốc Oai (thuộc tây Hà Nội ngày nay).
廣威府 Quảng Oai phủ: Phủ Quảng Oai (vùng Ba Vì, Sơn Tây ngày nay).
長安府 Trường An phủ: Phủ Trường An (vùng đất Ninh Bình ngày nay).
建昌府 Kiến Xương phủ & 應天府 (Ứng Thiên phủ): Các phủ thuộc đồng bằng sông Hồng.
Biểu tượng tòa thành lớn có chữ 湖 Hồ: Đây là biểu tượng của Tây Đô (Thành nhà Hồ) tại Thanh Hóa. Bên trong thành có các chú thích kiến trúc như 南門 (Nam Môn - Cổng Nam), 東門 (Đông Môn), 西門 (Tây Môn) và 三清場 (Tam Thanh trường).
3. Khu vực miền Trung tiến dần về phía Nam (Phía dưới bản đồ)
清華府 Thanh Hóa phủ / 清華道 Thanh Hóa đạo: Phủ/Đạo Thanh Hóa (được vẽ rất rộng với nhiều phân lưu sông ngòi).
清都府 Thanh Đô phủ: Phủ Thanh Đô (vùng miền núi phía tây Thanh Hóa).
演州府 Diễn Châu phủ: Phủ Diễn Châu (vùng đất phía bắc tỉnh Nghệ An ngày nay).
河中府 Hà Trung phủ: Phủ Hà Trung.
乂安道 Nghệ An đạo / 乂安府 Nghệ An phủ: Đạo/Phủ Nghệ An.
德清府 Đức Thanh phủ & 順德道 Thuận Đức đạo: Các đơn vị hành chính thuộc xứ Nghệ xưa.
新平府 Tân Bình phủ: Phủ Tân Bình (vùng đất Quảng Bình ngày nay).
臨安府 Lâm An phủ - phía nam: Tránh nhầm với Lâm An ở phía bắc, đây là phủ thuộc dải miền trung.
肇慶府 Triệu Khánh phủ) Tên phủ vùng biên viễn phía nam.
昇華府 Thăng Hóa phủ: Phủ Thăng Hóa (vùng đất Quảng Nam ngày nay).
南 Nam: Chữ lớn nằm trong ô vuông ở góc dưới cùng bên phải, đánh dấu hướng Nam — điểm tận cùng của bản đồ này.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Tóm lược vụ "Tinh Tra": Do Chánh sứ thần Lý Tiên Căn tự tay biên soạn. 星槎案略:正使臣李仙根手纂.
[星槎 Tinh Tra: "Bè sao" - điển tích Trương Khiên nhà Hán đi sứ Tây Vực, được ví như đi trên bè lên trời gặp sao Ngưu Chức.Ẩn dụ cho sứ bộ đi xa, mang trọng mệnh thiên tử.]
[案略 Án Lược: Tóm lược vụ việc, biên bản sơ lược. Thể loại văn bản hành chính.
Họ Lê giữ đất An Nam đã gần ba trăm năm. Đầu niên hiệu Gia Tĩnh (nhà Minh), bề tôi của họ là Mạc Đăng Dung cướp ngôi, sau thất bại, rút lui chiếm giữ vùng phía bắc Lạng Sơn, hai họ đời đời thù địch nhau.
Đầu niên hiệu Vạn Lịch, hai bên giảng hòa, chia các phủ châu Lạng Sơn, Cao Bằng... cho họ Mạc đời đời trấn giữ làm thuộc quốc [屬國 Thuộc quốc: Nước chư hầu, được tự trị nội bộ nhưng chịu danh nghĩa thiên triều. Cao Bằng nhà Mạc được nhà Minh/Thanh công nhận là "thuộc quốc" riêng]. Cuối thời Minh, họ Mạc càng suy yếu, các đất Lạng Sơn, Thái Nguyên... đều bị mất.
Đến khi Quốc triều (nhà Thanh) bình định đất Lưỡng Quảng, Mạc Kính Diệu đến quy phục, chưa kịp nhận tước vị đã qua đời, con ông là Mạc Nguyên Thanh kế tập, nhân đó được trao chức An Nam Đô thống sứ. [安南都統使: Chức quan võ chánh nhị phẩm, do nhà Thanh phong cho họ Mạc.Tương đương Tổng binh, cai quản vùng Cao Bằng].
Lê Duy Đề [tức là vua Lê Thần Tông 黎神宗 (6 tháng 1 năm 1607 - 2 tháng 11 năm 1662) tên húy là Lê Duy Kỳ (黎維祺), là vị hoàng đế thứ sáu của nhà Lê Trung hưng và thứ 17 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông cũng là vị Vua Việt Nam duy nhất hai lần lên ngôi, có đến 4 người con đều làm vua và là vị vua Việt Nam đầu tiên lấy vợ phương Tây cũng như là vua có nhiều vợ là người các dân tộc khác] cũng đến quy phục, chưa kịp thụ phong đã mất, con ông là Lê Duy Hy [tức vua Lê Huyền Tông 黎玄宗 (3 tháng 7 năm 1654 – 16 tháng 11 năm 1671) tên thật là Lê Duy Vũ 黎維禑, tên khác là Lê Duy Hi 黎維禧, là vị Hoàng đế thứ tám của nhà Lê Trung hưng và thứ 19 của triều Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam] lên ngôi. Năm Khang Hy thứ 3 (1664), triều đình sai quan sang dụ tế Lê Duy Đề. Năm thứ 5 (1666), sai quan sách phong Lê Duy Hy làm An Nam Quốc Vương. Nhưng hai họ vẫn lén lút thù sát nhau, không ngày nào ngừng. Tháng 8 năm thứ 6 (1667), Lê Duy Hy sai người đánh chiếm Cao Bằng, binh mã rất hùng mạnh. Mạc Nguyên Thanh muốn đầu hàng, nhưng thủ hạ là Nguyễn Công Liêu không nghe, cố sức chiến, cuối cùng thua tan. Mạc Nguyên Thanh trước kia vốn có hiềm khích với các thổ ty Quy Thuận, Hạ Lôi, không có viện binh, đường lui cũng bị cắt đứt, bèn hướng về phía Tiểu Trấn An chạy nhưng không vào được, đành phải chạy đến Quy Triều. Quy Triều chính là vùng biên giới.
Mạc Nguyên Thanh suýt nữa thì bị bắt, may gặp Thẩm Côn Vỹ (Thổ tri châu Phú Châu), Vương Hội (Tổng binh Quảng Nam), Trám Chí Khoan (Du kích quản lý việc Thiên tổng) tiếp ứng, sắp xếp nơi ở, may mà bảo toàn được tính mạng. Già trẻ trai gái không đầy 3.000 người, hành lý đều trống không.
Tháng Giêng năm thứ 7 (1668), Bình Tây Thân Vương dâng tấu lên triều đình, các nha môn Lưỡng Quảng đều có báo cáo. Vả lại, tội tự ý dùng binh của họ Lê, tự Mạc không thể trốn tránh, mà việc như chim ưng chim diều đuổi bắt vô lễ [鷹鸇之逐 Ưng chiên chi trục: Chim ưng, chim diều đuổi bắt con mồi: Ám chỉ việc họ Trịnh dùng vũ lực mạnh áp đảo họ Mạc một cách vô lễ], các quần thần đều đồng lòng. Chỉ có Hoàng thượng như trời yêu chuộng sinh linh, thánh ý độc đoán [宸衷獨斷 Thần trung độc đoán: Thánh ý của Hoàng đế tự quyết định. Ca ngợi Khang Hy có chủ kiến riêng, không bị quần thần chi phối], ra lệnh dùng sắc dụ bảo Lê chủ: nay phải trả lại đất và dân, giảng hòa để yên sinh. Lại ra lệnh dời Mạc Nguyên Thanh đến phủ Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, an dưỡng chờ đợi. Bộ Binh dự thảo dùng sắc dụ chuyển giao sang An Nam.
Ngày 28 tháng 4, đặc mệnh các nha môn có trách nhiệm tuyển chọn người có tài năng, hiểu đại nghĩa, giỏi ngôn từ để đi. Ngày 29, Nội Tam Viện đề cử Thị độc gia nhất cấp là thần Tiên Căn (tôi), Bộ Binh đề cử Chủ sự gia nhất cấp là thần Triệu Kiệt (tôi). Hoàng thượng liền ban chỉ dụ và truyền dụ như sau...
Ngày mồng 7 tháng 5, tự soạn hai sớ, ngày 15 nhận chỉ dụ và truyền dụ như sau... Hôm đó, được ban Lân Mãng phục chính nhất phẩm [áo mãng xà thêu kỳ lân hạng nhất; 麟蟒服 Lân Mãng phục: Áo lễ thêu hình kỳ lân và mãng xà, dành cho quan nhất phẩm. Là vinh dự đặc biệt, thể hiện sự trọng thị của Hoàng đế với sứ giả]. Có chỉ dụ Bộ Binh truyền lên điện ban tiệc. Bộ Binh vì việc cầu mưa đang trai giới, xin hoãn kỳ hạn. Ngày 19, mới được triệu vào, ban chỗ ngồi và tiệc. Hoàng thượng đích thân ban hoa quả từ ngự tiền, hỏi về quê quán, xuất thân và các việc ở Giao Nam.
Ngày 20 từ biệt triều đình, ngày 21 lên đường.
Vì là mật bản, không dám kể chi tiết, chỉ tóm lược đại ý như vậy. [密本 Mật bản: Văn bản mật, không được công khai. Lý do tác giả chỉ viết "tóm lược đại ý"].
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
1780928792813.png

Tranh vẽ sứ thần được vua Thanh ban yến​
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
AN NAM SỬ SỰ KỶ YẾU QUYỂN 1 安南使事紀要卷一

Ngày 28 tháng 11 năm Khang Hy thứ 7 (1668; 康熙七年: Năm Khang Hy thứ 7. Sứ bộ khởi hành từ Bắc Kinh tháng 5/1668, đến Quảng Tây cuối tháng 11/1668), thuyền của Chánh sứ và Phó sứ lần lượt cập bến phủ Nam Ninh. Bày Long đình đặt sắc chỉ [敕旨龍亭: Kiệu/trượng hình rồng dùng để đặt chiếu chỉ vua. Theo lễ chế nhà Thanh, khi sứ bộ đến địa phương, phải bày Long đình để quan lại và phiên thần làm lễ tiếp sắc], sai An Nam Đô thống sứ Mạc Nguyên Thanh [安南都統使 莫元清: Mạc Nguyên Thanh (nhánh kế tập họ Mạc ở Cao Bằng). Nhà Thanh phong chức Đô thống sứ (tòng nhất phẩm) để quản lý Cao Bằng như một "thuộc quốc" riêng, tách biệt với An Nam của họ Lê] làm lễ bái xong, lại bày ghế công đường, dẫn Nguyên Thanh vào ra mắt. Ông ta dập đầu khóc lóc thưa:
- Từ khi chạy trốn mất chỗ nương tựa, được ơn cao dày của Triều đình, hai vị đại nhân vất vả đường xa đến đây, chức ty hèn mọn mới được thấy lại ánh mặt trời. Xin cùng nghe các vị dạy bảo. [天日Ẩn dụ chỉ ân điển thiên tử. Mạc Nguyên Thanh ví việc được nhà Thanh che chở như "thấy lại mặt trời" sau thời gian chạy trốn].
Chúng tôi dạy rằng:
- Hoàng thượng thương xót các ngươi chạy trốn nơi xa, nên đặc biệt phái sứ thần đến, liệu họ Lê tự nhiên không dám trái lệnh chống đối. Ngày trở về của các ngươi đã có hẹn, các ngươi hãy yên tâm chờ đợi, không cần phải khóc lóc. Có thể đem địa giới đất đai Cao Bằng cùng số nhân khẩu thất lạc, làm sổ sách đóng dấu rõ ràng [印册: Sổ sách có đóng dấu triện. Nhà Thanh yêu cầu khai báo chi tiết địa giới và nhân khẩu Cao Bằng để làm bằng chứng pháp lý khi đàm phán với nhà Lê], trình lên quan địa phương, chuyển đệ lên nha môn và Bộ để tiện tra cứu đòi lại. Nhưng các ngươi cùng quẫn đến mức này, binh mã tài vật đều bị cướp sạch, dù cho An Nam hối hận gây họa, trả lại đất cũ cho các ngươi, thì các ngươi lấy gì để tự lập?
Nguyên Thanh thưa:
- Nếu được hai vị đại nhân tuyên bố ân uy của triều đình, cho trở lại Cao Bằng là nơi có phần mộ tổ tiên, dám không gắng gượng chống đỡ, để báo đáp ân đức tái tạo của Triều đình. Đồng thời sẽ xây sinh từ (生祠: Đền thờ sống. Phong tục Nho giáo: dựng đền thờ quan lại khi họ còn sống để tỏ lòng biết ơn. Ở đây là lời ngoại giao của Mạc Nguyên Thanh nhằm lấy lòng sứ thần) cho hai vị đại nhân, để con cháu đời đời cảm niệm không quên.
[Đoạn văn cho thấy họ Mạc lúc này đã suy kiệt ("兵馬財物殺刼一空", "男女老小不足三千口"). Nhà Thanh dùng chính sách "dĩ Di chế Di" (dùng người Di trị người Di), bảo hộ họ Mạc để gây áp lực ngoại giao lên nhà Lê-Trịnh, buộc họ phải trả lại Cao Bằng và duy trì trật tự biên giới.]
Ngày 29, sứ bộ cùng quyên góp bạc, sai huyện Tuyên Hóa [宣化縣Huyện Tuyên Hóa, phủ Thái Bình, Quảng Tây (nay thuộc TP. Sùng Tả). Nơi sứ bộ dừng chân mua lương thực] mua 100 thạch gạo, cùng các thứ lụa, vải, ủng, vớ, lợn, dê, rượu, để khao thưởng Nguyên Thanh, dặn người đi theo không được nhận bạc tạ ơn của Nguyên Thanh. Mỗi người 11 lạng, đều trả lại.
Ngày mồng 1 tháng 12, gặp mặt bàn bạc với Đề đốc họ Mã [提督馬: Đề đốc Quảng Tây họ Mã (khả dĩ là Mã Hùng 馬雄, nhậm chức 1660–1670)]. Chức quan võ cao nhất tỉnh, phụ trách quân vụ biên giới và phối hợp với sứ bộ., giục Nguyên Thanh làm sổ sách đóng dấu trình báo.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ngày mồng 4, Chánh sứ lên thuyền đi trước.
Ngày mồng 5, Phó sứ cũng lên đường. Nguyên Thanh dâng 10 lạng vàng, lại nói: "Còn chuẩn bị 10 lạng nữa gửi biếu Lý đại nhân." Phó sứ nghiêm sắc mặt quát mắng, đều trả lại.
Ngày 12, tiến vào phủ Thái Bình. Nghe nói phu phen và ngựa trạm của Giao Chỉ chưa chuẩn bị xong [交趾夫馬: Phu phen và ngựa trạm do phía Đại Việt chuẩn bị để đón tiếp sứ bộ theo thông lệ ngoại giao triều cống. Việc "chưa tề" cho thấy nhà Lê-Trịnh đang trì hoãn hoặc thăm dò], quan lại châu Văn Uyên [文淵州: Châu Văn Uyên, phủ Lạng Sơn, Đại Việt (nay là huyện Văn Lãng, Lạng Sơn). Cửa ngõ biên giới tiếp giáp phủ Thái Bình & Tư Minh của Quảng Tây] là Nguyễn Đình Lộc [nguyên văn: di quan彝官 vốn là từ nhà Thanh dùng chỉ quan lại vùng dân tộc thiểu số/biên viễn. Ở đây dùng để chỉ quan địa phương Đại Việt. Nguyễn Đình Lộc là thổ quan/châu mục châu Văn Uyên, phụ trách tiếp đón sứ bộ] gửi văn thư đến thăm dò ý định, lại xin gia hạn. Hai vị bàn bạc: "Nếu không đi trước đến gần cửa ải, e rằng họ sẽ chậm trễ không để tâm."
[Chi tiết "交趾夫馬未齊... 求寬限" phản ánh thái độ thận trọng của chính quyền Lê-Trịnh. Việc trì hoãn chuẩn bị phu mã có thể là sách lược ngoại giao nhằm thăm dò thái độ thực sự của sứ bộ, hoặc do nội bộ Đàng Ngoài còn phân vân giữa việc tuân thủ sắc chỉ và bảo vệ quyền kiểm soát Cao Bằng.]

1780929101890.png

Mạc Nguyên Thanh gặp 2 sứ thần
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ngày 18, mới bắt đầu đi đường bộ.
Ngày 19, đến phủ Tư Minh. [思明府: Phủ Tư Minh, Quảng Tây (nay là huyện Ninh Minh, Sùng Tả). Trạm dừng chân cuối cùng trên đất Thanh trước khi qua cửa ải Khâu Ôn (Chi Lăng) sang Đại Việt] [Hành trình địa lý: Nam Ninh → Tuyên Hóa → Thái Bình → Tư Minh là tuyến đường thủy-bộ tiêu chuẩn từ nội địa Quảng Tây tiến ra biên giới Lạng Sơn. Tư Minh là điểm tập kết cuối cùng trước khi vượt ải sang châu Văn Uyên].
Ngày 22, gửi công văn cho Đề đốc [提督: Đề đốc Quảng Tây (võ quan nhị phẩm), phụ trách quân vụ toàn tỉnh, phối hợp hậu cần cho sứ bộ], tiếp tục giục Nguyên Thanh làm sổ sách đóng dấu. Lại nhiều lần ra lệnh cho doanh Tân Thái, Thái Tương và thủ bị Long Bằng [新太營、泰將、龍憑守備: Các đơn vị quân sự địa phương Quảng Tây đóng gần biên giới. Long Bằng nay là huyện Long Châu, Sùng Tả], hẹn đúng kỳ hạn xuất quan. Quan lại Di (Việt) liên tiếp dâng văn xin gia hạn, nói rằng phi báo cho Quốc vương phái quan cùng binh phu voi ngựa đến cửa ải đón tiếp, đi về mất hơn tháng, sợ lỡ hẹn mắc tội, thế là sứ bộ phải dừng chân qua năm mới.
Tra cứu lệ cũ, khi bài lệnh của Khâm sứ đến Thái Bình, quan đạo Tả Giang [左江道: Cơ quan giám sát khu vực sông Tả Giang (Quảng Tây), phụ trách ngoại giao biên giới. Năm 1668 chức này đã bị bãi, gây gián đoạn nghi lễ đón sứ] lập tức gửi phiếu ra ngoài ải, ra lệnh phải nhanh chóng đến đón. Lễ nghi thể thống rất nghiêm túc. Lần này chức Đạo đã bị bãi, phủ Thái Bình không thuộc quyền quản hạt, mà người quyền Đồng tri phủ Tư Minh chỉ là một viên Kinh lịch phủ [府經歷: Chức quan chánh lục phẩm, chuyên lo văn thư, kế toán trong phủ. Việc để Kinh lịch tạm quyền Đồng tri cho thấy bộ máy hành chính biên giới Thanh lúc này còn sơ sài], người phòng thủ Nam Quan chỉ là một viên Thủ bị [守備: Võ quan chánh ngũ phẩm, phụ trách phòng thủ cửa ải]. Tình hình người Di thường gian trá, hiệu lệnh không thông suốt, hai sứ thần phải tự mình đốc thúc, không phải là lệ cũ, chỉ là bất đắc dĩ thôi.
Ngày mồng 4 tháng Giêng năm Khang Hy thứ 8 (1669), nhận được tin biên giới báo: quan binh An Nam đã đến châu Văn Uyên. [康熙捌年正月初四日: Ngày mồng 4 tháng Giêng năm Khang Hy 8 → 4 tháng 2 năm 1669 (Dương lịch). Sứ bộ khởi hành tháng 5/1668, đến biên giới đầu tháng 2/1669, hành trình kéo dài ~8 tháng do đường thủy vòng vèo và chờ đợi phía Việt.]
Ngày mồng 6 lên đường, nghỉ ở thành Thụ Hàng, khoảng 60 dặm.
Ngày mồng 7, nghỉ ở trại Mạc Phủ [幕府營: Trại quân tạm dựng làm nơi nghỉ của sứ bộ trước khi qua ải], khoảng 40 dặm. Phía trước đã gần sát Nam Quan [南關: Trấn Nam Quan (nay là Hữu Nghị Quan, Lạng Sơn). Cửa ải chính thức thông thương và ngoại giao giữa Đại Việt và Trung Hoa]. Từ Quế Lâm Quảng Tây theo đường bộ đến Nam Quan chỉ chừng 1.600–1.700 dặm, nhưng vì đường núi hoang vu hiểm trở, phu ngựa bất tiện, nên đi thuyền từ Ly Giang xuống Ngô Châu, rồi từ Ngô Châu ngược dòng lên Tầm Châu, Ung Châu, ngược sông Tả Giang, tính ra đi vòng thêm 700–800 dặm nữa.
Ngày mồng 8, đến Nam Quan, còn khoảng hơn 20 dặm. Sáng lên đường, mưa to như trút nước, người bản xứ đều nói: "Xưa nay người ra vào, mở cửa quan ắt có mưa, chưa từng sai, cũng lạ thật." Khi đến gần cửa quan, thì bỗng nhiên tạnh mưa gió mát. Chánh phó sứ mặc triều phục đứng xếp hàng, các quan văn võ tham bái tống hành sắc thư [敕書: Sắc chỉ của Hoàng đế Thanh, văn bản pháp lý cao nhất dùng trong ngoại giao triều cống]. Phái quan tế thần cửa quan, thần thổ địa, đánh trống mở cửa quan [關神、土神 Quan Thần, Thổ Thần: Thần cửa ải và thần thổ địa địa phương. Nghi lễ tế thần trước khi mở ải là bắt buộc trong quy chế biên quan nhà Thanh]. Quan An Nam là Lĩnh tử Đồng Tồn Trạch同存澤, Thị lang Bùi Đình Viên裴廷員, Học sĩ Ngô Khuê吳珪 vào bái yết sắc thư [Quan lại Đại Việt phái đến đón sứ: Đồng Tồn Trạch (chức Lĩnh tử/Lĩnh binh), Bùi Đình Viên (Thị lang), Ngô Khuê (Học sĩ). Phản ánh việc nhà Lê-Trịnh cử đoàn tiếp đón trọng thị]. Sau đó các quan văn võ đến tham tống chánh phó sứ, quan Di cũng dùng danh thiếp lạy đón, đều đúng nghi lễ. Truyền dụ cho phu ngựa nước ấy vào quan thay phiên, dặn thủ bị kiểm tra kỹ số lượng tùy tùng, hành lý đồ đạc, không được phép cất giấu buôn bán phóng túng các kiểu. Lại tập hợp quan văn võ nói mặt rằng:
- Triều đình phái hai sứ thần tuyên dụ người Di ngoài biên, đã có tính toán nhất định, uy trời ban ra, tự nhiên họ sẽ cung phục. Vạn nhất đất lạ khó lường, có chút nghi nan, hai sứ thần chỉ biết vâng mệnh vua. Ngày nhận mệnh chính là ngày dâng hiến tính mạng, không thể vì hai người chúng ta mà ngờ vực cản trở trói buộc." [奉命之日,卽授命之日: Câu nói kinh điển của sứ thần Nho gia: "Ngày nhận mệnh vua cũng là ngày dâng hiến tính mạng", thể hiện tinh thần "xả thân báo quốc", không lùi bước trước nguy biến].
Thủ bị La Trọng Cao tiến lên nói: [羅仲高: Thủ bị Thanh trấn giữ Nam Quan, phụ trách an ninh cửa ải và tiếp ứng hậu cần].
- Thanh uy thiên triều, tài danh vọng hai vị đại nhân, nước kia ắt phải nghe theo cẩn trọng. Quan mọn hạ cấp ở đây cung kính chờ tin lành, đâu đến nỗi như lời đại nhân nói.
[Đồng Tồn Trạch (1616-1692) là quan nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Đồng Tồn Trạch người làng Lôi Dương, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Việt Nam. Ông nội ông là Đồng Đắc và bác ông là Đồng Hãng đều có tài văn chương. Đồng Hãng đỗ đồng tiến sĩ thời Mạc Tuyên Tông, làm tới chức Thượng thư rồi theo nhà Lê trung hưng. Đồng Tồn Trạch học giỏi nhờ truyền thống gia đình có nhiều người hay chữ.
Năm 31 tuổi (1646), Đồng Tồn Trạch đỗ đồng tiến sĩ đời Lê Chân Tông. Sau đó ông vào ứng chế đỗ đầu. Ông được chúa Trịnh Tráng bổ nhiệm làm Đô cấp sự.
Năm 1664 đời Lê Huyền Tông, ông được thăng làm Tả thị lang bộ Công. Năm 1669 ông được chúa Trịnh Tạc thăng làm Đô ngự sử rồi bị bãi chức.
Năm 1673 đời Lê Gia Tông, ông lại được dùng làm Hữu thị bộ Hình. Năm 1683 ông làm Thượng thư bộ Hộ, vào làm Tham tụng trong phủ chúa Trịnh Căn, tước Nghĩa Trạch hầu.
Năm 1691 khi đã 76 tuổi, ông về hưu. Được hơn 1 năm sau thì ông mất (1692), thọ 77 tuổi, được truy tặng là Thượng thư bộ Lại, Thái bảo, Nghĩa quận công.]

1780929194566.png
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
1780929247418.png
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Thế là lên đường, đi khoảng hơn 10 dặm, nghỉ ở châu Văn Uyên. Đồng Tồn Trạch dâng một bài thơ, sứ giả đáp rằng:
- Việc vua đang bận, không rảnh luận thơ văn riêng tư, đợi sau khi hoàn thành sứ mệnh rồi bàn luận cũng chưa muộn. [王事在身,不暇私論詩文: Thái độ chuyên nghiệp của sứ thần: ưu tiên quốc sự, từ chối giao lưu văn chương riêng tư cho đến khi hoàn tất sứ mệnh. Đây là nguyên tắc ngoại giao nghiêm ngặt thời Minh-Thanh].
Ngày mồng 9, đến phủ Lạng Sơn, khoảng 40 dặm, có thành cổ, cư dân phần lớn ở ngoài thành, đồng bằng hoang vắng, núi non sông nước vây quanh tươi đẹp.
Ngày mồng 10, quan Di khẩn khoản xin ở lại một ngày, để tiện dọn dẹp tiếp ứng phía trước, lâu sau mới bằng lòng, vẫn bắt làm giấy cam kết không dám chậm trễ. Mấy ngày liền mưa gió, giá rét.
Ngày 11, mặc áo da dày mới lên đường, đến An Châu [安州: Châu An (nay thuộc huyện Tràng Định, Lạng Sơn), trạm dừng trên đường thiên lý từ Lạng Sơn về Kinh Bắc], khoảng 100 dặm
Ngày 12, qua Quỷ Môn Quan, chuẩn bị chúc văn, lợn dê rượu lễ, tế tướng quân Mã Phục Ba, là lệ cũ. Nghỉ ở Đồn Mi, khoảng 90 dặm. [馬伏波將軍: Mã Viện (tước Phục Ba tướng quân), tướng Đông Hán từng sang dẹp Trưng Vương (42–43 SCN). Việc tế Mã Viện là "lệ cũ" của các sứ bộ Trung Hoa khi qua vùng biên viễn phía Nam, nhằm cầu bình an và khẳng định tính chính thống lịch sử. Ngày xưa, có miếu thờ Mã Viện ở gần Quỷ Môn Quan]
[Đoạn văn ghi rõ lý do chọn đường thủy: Ly Giang → Ngô Châu → Tầm/Ung Châu → Tả Giang. Đây là tuyến vận tải chính của Quảng Tây thế kỷ 17, tránh đường bộ hiểm trở vùng Quế-Liễu. Tổng hành trình ~2.400 dặm, mất 8 tháng, phản ánh khó khăn hậu cần của sứ bộ trước khi vào Đại Việt.]
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ngày 13, đến Trà Sơn [茶山 Trà Sơn: Địa danh vùng biên Lạng Sơn–Bắc Giang, nay thuộc khu vực huyện Hữu Lũng hoặc Lạng Giang. Là mốc chuyển tiếp từ núi rừng sang đồng bằng], khoảng 70 dặm. Từ Đồn Mi đến đây, địa thế dần bằng phẳng, dân cư tụ tập đông đúc, tóc xõa chân đất, chạy nhảy cười vui, người đến xem càng ngày càng tăng. Chánh phó sứ than rằng:
- Sao dân đông thế này, dân Giao cũng là dân ta, vạn nhất việc không thành, lỗi ấy thuộc về hai chúng ta.
Ngày 14, đến Xương Giang, khoảng 50 dặm. [昌江 Xương Giang: Sông Xương Giang, nay thuộc TP. Bắc Giang. Trạm dừng quan trọng trên đường từ cửa khẩu về Thăng Long].
Ngày 15, đến Thị Cầu, khoảng 40 dặm. [市橋 Thị Cầu: Nay thuộc TP. Bắc Ninh. Cửa ngõ phía bắc kinh thành Thăng Long, nơi có chợ nổi tiếng và trạm tiếp sứ].
Ngày 16, đến An Tường [安詳 An Tường: Khu vực ven sông Cầu, gần Kinh Bắc. Thường là trạm nghỉ cuối trước khi vào Thăng Long], khoảng 40 dặm. Lê Vương sai phiên quan là Chước Quận công濯郡公 Trịnh Khiêm鄭慊, Diên Lộc bá延祿伯 Dương Hạo楊澔, đem dê rượu hoa quả đến đón, đưa đến quán Cảnh Thu景收 [景收: Có thể là lỗi khắc in của 景福館 hoặc 景行館 (quán tiếp sứ nổi tiếng ở Thăng Long). Bản Thanh sơ thường chép lệch tên quán do âm đọc địa phương], nhận một nửa lễ vật, thưởng bạc 8 lạng, lại dùng trâu rượu lợn dê khao thưởng binh lính đón tiếp hộ tống.
Ngày 17, đến Giao Châu, quán Lâm Hạ, khoảng 30 dặm [交州 臨賀館Giao Châu chỉ Thăng Long/Hà Nội thời Lê. Lâm Hạ Quán là nơi tiếp đón sứ thần Trung Hoa chính thức, nằm ngoài thành Thăng Long (khoảng khu vực Ô Chợ Dừa–Khâm Thiên ngày nay)]. Từ Nam Quan đến Giao Châu khoảng 480 dặm, chỉ đoạn từ Lạng Sơn đến Quỷ Môn Quan trăm dặm là núi vây rừng rậm, hoàn toàn không có người ở. Suối khe phải qua hơn 90 lần, còn lại đều là đường lớn bằng phẳng, không lầy không cát, có thể đi song song xe ngựa. Nước ấy lại dâng trâu rượu các thứ tiễn biệt, chỉ giữ lại một hai loại quả, còn lại đều trả lại. Phụ quốc chính Trịnh Thực [鄭檍 / 輔國政 "Phụ quốc chính" là chức danh thực quyền của Chúa Trịnh (Trịnh Tạc). Trịnh Thực 鄭檍 có thể là tên húy hoặc tước hiệu khác của Trịnh Tạc, hoặc một trọng thần phủ chúa. Nhà Thanh ghi chép thường gọi chúa Trịnh là "phụ chính" hoặc "quốc phó"] cũng gửi lễ, lượng nhận vài món, lại phát tiền khao binh lính nước ấy.
Ngày 18, truyền bảo Đồng Tồn Trạch v.v. dụ lệnh Quốc vương nghênh tiếp sắc chỉ khai độc, mọi nghi lễ đều phải tuân theo Hội điển [會典 Hội điển: 《Đại Thanh Hội Điển》, bộ điển chế quy định nghi lễ ngoại giao, tiếp sứ, khai đọc sắc chỉ. Sứ thần nhấn mạnh "mẫu độc" (không được tùy tiện) để giữ uy nghiêm thiên triều], không được làm càn. Quan di tuy biết là việc họ Mạc, nhưng vẫn cố xin mật thị ý chỉ đại khái, cùng dụ bảo rằng:
- Triều đình có sắc dụ bảo Quốc vương, lúc khai độc tự nhiên sẽ biết, các ngươi sao dám riêng tư xin hỏi.
Thế là niêm yết cáo thị nghiêm răn các viên dịch, không được phép thông đồng giao dịch riêng với phiên quan, thông sự, cư dân, nói năng càn rỡ, gây chuyện phá hoại pháp luật, kẻ phạm sẽ trị tội nặng. Đêm ấy mưa rất to, giá rét.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ngày 19, rạng sáng, mưa tuyết, người Giao kinh ngạc lạ lùng. Nhớ lại thời Vĩnh Lạc, Trương Phụ v.v. đã bình định An Nam [Trương Phụ (Anh Quốc công), tướng nhà Minh sang dẹp nhà Hồ (1407). Văn bản Thanh sơ thường dùng sự kiện Vĩnh Lạc làm chuẩn mực tham chiếu ngoại giao], vua đặc biệt phái giám sinh Trương Lễ tế thần núi Hành [岳之神 Thần núi Hành Dương (Hoành Sơn/Hành Sơn). Lễ tế thần núi nhằm cầu khí hậu ôn hòa, tiêu trừ chướng khí (sốt rét, dịch bệnh) cho quân sứ], cầu ban phúc lành lớn, ngầm tiêu tan chướng khí, khiến khí mát mẻ giáng xuống, tướng sĩ an ninh, trăm bệnh không phát sinh. Chuyến đi này, từ khi ra cửa ải đến nay, thiên uy ứng nghiệm ngày ngày, tiếp theo là tuyết bay, thực là do lòng hiếu sinh của Hoàng thượng cảm động, trăm thần ban phúc [震風 / 霏雪: "Trấn phong" chỉ gió lớn/thiên uy ứng nghiệm; "phi tuyết" là tuyết bay. Tuyết tháng Giêng ở Bắc Bộ rất hiếm, được sứ thần diễn giải thành "thánh đức cảm thiên", phù hợp với tư tưởng Nho giáo "thiên nhân cảm ứng"]. Hai sứ thần không khỏi chắp tay lên trán, mừng khóc lẫn lộn. Vương sai người đến hỏi an, xin định ngày khai đọc sắc chỉ, càng nghiêm túc, dụ bảo thúc giục.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
1780929350493.png
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
(Đó là lời trình của phía Việt. Sứ bộ bèn thảo công văn đáp lại.)

[Mẹ của Trịnh Phụ quốc (chúa Trịnh Tạc) thọ 95 tuổi. Có thể giải thích cho việc trì hoãn nghi lễ hoặc xin ân điển. (Bà Nguyễn Thị Ngọc Lung, mẹ Trịnh Tạc, mất năm 1668; nếu thọ 95, có thể là lễ tang hoặc kỷ niệm liên quan).]

[Hành trình địa lý & hạ tầng giao thông: Đoạn văn mô tả rõ tuyến đường: Nam Quan → Quỷ Môn Quan → Trà Sơn → Xương Giang → Thị Cầu → An Tường → Lâm Hạ Quán (Thăng Long).

Nhận xét "duy Lạng Sơn đến Quỷ Môn Quan bách lý gian, sơn hoàn lâm mật, tuyệt vô nhân yên" phản ánh đúng đặc điểm địa hình vùng biên giới thế kỷ 17: rừng rậm, suối dốc, dân cư thưa thớt, khác hẳn đồng bằng Bắc Bộ. "giản khê cửu thập dư độ" cho thấy sứ bộ phải vượt qua hàng chục con suối, phản ánh khó khăn thực tế của hành trình bộ hành trước khi vào vùng đồng bằng.]

[2. Nghi lễ tiếp sứ & kỷ luật ngoại giao: Sứ thần kiên trì nguyên tắc: chỉ nhận một phần lễ vật, trả lại phần còn lại, đồng thời dùng tiền bạc khao thưởng binh lính địa phương. Đây là quy chuẩn "liêm sứ" của nhà Thanh, tránh tiếng nhận hối lộ hoặc thiên vị. Việc niêm yết cáo thị "bất hứa dữ phiên quan thông sự cư dân tư tương câu dẫn giao dịch" nhằm ngăn chặn buôn lậu, trao đổi thông tin nhạy cảm, hoặc tư thông với thổ dân – vấn đề thường xảy ra với các đoàn sứ trước đó.

[3. Hiện tượng thời tiết & diễn ngôn chính trị: Mưa tuyết tháng Giêng ở Bắc Bộ là hiện tượng khí hậu hiếm gặp. Sứ thần không ghi chép như một sự kiện tự nhiên đơn thuần, mà diễn giải thành điềm lành: "chân Hoàng thượng hiếu sinh sở cảm, bách thần hiệu phúc". Việc dẫn chiếu sự kiện Vĩnh Lạc (Trương Phụ bình An Nam, tế thần Hành Sơn) cho thấy nhà Thanh kế thừa diễn ngôn chính trị Minh triều: dùng lễ nghi tôn giáo và thiên văn để hợp pháp hóa uy quyền thiên triều, đồng thời giảm bớt căng thẳng quân sự.]

[4. Thái độ của chính quyền Lê-Trịnh: Việc chúa Trịnh cử Quận công, Bá tước đón sứ từ sớm, dâng lễ vật, xin định ngày khai đọc sắc chỉ cho thấy sự tuân thủ lễ chế tông phiên trên bề mặt. Tuy nhiên, chi tiết "di quan tuy tri vi Mạc thị sự, nhiên cố thỉnh mật thị lai chỉ đại ý" phản ánh sự dè chừng nội bộ: quan lại Đại Việt muốn thăm dò trước thái độ của nhà Thanh về vấn đề Cao Bằng, nhưng bị sứ thần từ chối khéo léo bằng lập trường "khai độc thời tự nhiên thông tri".]

Ngày 21, sứ bộ truyền dụ các quan tiếp đón An Nam:

“Các ngươi vâng chỉ Quốc vương, chuyển trình chi tiết lên, thực khiến bọn ta rất đỗi kinh ngạc. Viện Bộ [本院部: Đại từ xưng hô của sứ bộ (Lý Tiên Căn & Dương Triệu Kiệt). Thời Minh-Thanh, sứ thần thường xưng 本院/本部 thay mặt Lễ Bộ/Binh Bộ truyền mệnh] bọn ta vâng mệnh triều đình, vượt muôn dặm gian nan mới đến nước các ngươi, lẽ ra vừa tới là phải mở đọc sắc chỉ, cung kính thụ mệnh. Ngờ đâu sau 3–4 ngày truyền dụ qua lại, nay lại lấy cớ tang chế của họ Trịnh (phụ chính) để thoái thác, lại còn muốn sai trọng thần lĩnh sắc chỉ thay, thật là sai lầm đến thế nào!

Phàm mệnh lớn của triều đình ban xuống, như gió thổi cỏ rạp. Quốc sự còn phải tạm gác, huống chi tang riêng sao dám cản trở việc nghênh sắc? Lễ khai độc trong Hội điển đã có nghi thức nhất định, xưa nay chưa từng có lý do để bồi thần tự ý lĩnh thay [陪臣Bồi thần: chỉ quan lại của phiên quốc. Trong hệ thống tông phiên, chỉ có Quốc vương mới đủ tư cách tiếp sắc chỉ thiên triều. Bồi thần lĩnh sắc là "vi lễ"]. Nay tang họ Trịnh là tang riêng. Câu "dân chúng có tang, ta bò đến cứu" vốn chỉ áp dụng cho họ hàng thân tộc, chứ không nói đến bậc tôn quý. Trong nước các ngươi, há còn ai tôn hơn Quốc vương họ Lê sao? [凡民有喪,匍匐救之 Trích Lễ Ký, Đàn Cung《禮記·檀弓》. Nguyên văn nhấn mạnh tình nghĩa huyết thống, sứ thần dùng để phản bác: tang chế áp dụng cho thân tộc, không thể lấy cớ này để thay đổi quốc lễ tiếp sứ].

Lấy thân phận Quốc vương tôn quý, mà lại nói phải tận hiếu với mẹ công thần, từ cổ chí kim, hiếm khi nghe thấy. Quốc vương các ngươi khen công đức họ Trịnh thấu trời, lòng trung xuyên ngày, Viện Bộ ta cũng đã rõ từ lâu. Nhưng phận làm trung thần với nước, phò nguy định loạn vốn là lẽ đương nhiên. Huống hồ công càng lớn thì lòng càng khiêm, quyền càng nặng thì lễ càng cung, quyết không ai chịu vì tang riêng trong nhà mà ép chủ quân phải ngồi trên rơm đất chịu tang. [苫塊Thiêm khối: nằm trên rơm (thảm), gối đầu lên đất (khối). Lễ tiết chịu tang của Nho gia. Sứ thần ám chỉ không thể vì tang riêng mà hạ thấp vị thế Quốc vương].

Nếu Quốc chủ các ngươi thực có lòng báo đức, chỉ cần tạm bãi triều, thân hành đến viếng, ban hậu lễ phúng điếu, truy tặng thụy hiệu cao, để vinh ủi người sống kẻ chết là đủ [輟朝親臨,厚崇封謚: Bãi triều (ngừng họp), đích thân viếng, ban hậu lễ phúng điếu, truy tặng thụy hiệu. Đây là nghi thức chuẩn mực của Nho gia khi trọng thần qua đời, vừa thể hiện ân điển, vừa giữ đúng quốc thể]. Còn như để kẻ dưới vượt bậc, lễ nghi sai tiết, ấy là quá lắm rồi. Phụ chính họ Trịnh đã là trung thần, tất hiểu đại nghĩa. Nếu vì tang riêng mà bỏ việc lớn nghênh sắc, làm tội triều đình, e rằng lòng trung nghĩa của ông ta sẽ cảm thấy bức bối bất an lắm thay.

Vả lại, nghi trượng cổ nhạc đều đặt tại phủ Chúa Lê, chứ có phải tại tư gia họ Trịnh đâu, có gì phải hiềm nghi mà muốn tùy cơ chiếu cố, sai trọng thần lĩnh sắc chỉ thay? Bộ ta vâng chỉ diện dụ An Nam Vương, há lại đi dụ trọng thần của Vương sao? Bề tôi dù trọng, ai dám thay Vương?

Giả sử nước các ngươi thật có trọng thần có thể thay Vương, nhưng Viện Bộ ta chưa diện kiến Lê Vương, sao dám tự tiện đổi mệnh? Cơ nghiệp nguy vong chính ở chỗ này. Các ngươi lại bảo "lòng kính vẫn như một", phải chăng? Hay không?

Nước các ngươi nằm trong chín châu văn hiến [九域 Cửu vực: chỉ Trung Nguyên/văn minh Hoa Hạ. Sứ thần dùng để nhấn mạnh Đại Việt nằm trong vòng ảnh hưởng lễ nghĩa, không thể hành xử "phi lễ"], đời nào cũng có người thuần tú hiếu học. Vậy mà cử chỉ bàn luận lại sai lầm đến thế, ngay láng giềng còn không thể nghe nổi, huống chi dám ngang nhiên nói với thượng quốc, để thiên hạ chê cười về sau sao?

Các ngươi hãy chuyển tâu Quốc vương phải một lòng theo lệ cũ nghênh sắc, tuyệt đối không được dùng lời phi lễ để trì hoãn thêm nữa. Các đại thần cũng nên đọc sách Minh Lý, dẫn dắt quân chủ theo Chính đạo là dù phụ chính họ Trịnh của các ngươi từng trải đã lâu, cũng chưa từng không cẩn trọng dè chừng, cúi mình tâu bẩm Quốc vương, nén tình riêng để tuân theo lễ công. Các ngươi hãy suy ngẫm kỹ, chớ xem nhẹ. Lại tiếp tục giục các quan Việt chớ được trì hoãn mệnh lớn, tự chuốc lấy tội vạ.”
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ngày 22, Đồng Tồn Trạch v.v. lại dâng trình bày, đại lược nói:
“Tổ phụ họ Mạc là Mạc Đăng Dung, tâm địa như chó lợn, dám làm điều soán đoạt. May nhờ tiên tổ phụ quốc (họ Trịnh) dẹp trừ ngụy Mạc, thu phục kinh đô, tái tạo nhà Lê, truyền đến phụ quốc nay là Trịnh Tạc. Quốc vương được nuôi dưỡng dạy dỗ, có nghĩa "thân thân" (trọng tình tộc huyết) trải qua thế sự, không thể so với công thần tầm thường khác. Quốc vương cảm kích sâu sắc công đức trong ngoài, nghiêm chỉnh tuân theo lễ chế, ấy là tấm lòng thịnh tình. Lại như trước kia hai vị Phạm, Mã phụng sắc dụ, bắt giữ Dương Nhị, Dương Tam, cũng là trọng thần, lĩnh sắc đúng nghi lễ. Nay sứ giả quý quốc tuy không thể sánh với sai phái của Phạm, Mã, nhưng mệnh vua thì như một. Sứ giả quý quốc tự nhận gánh vác học vấn thánh nhân, há không thể mở rộng khí độ bao dung của đại thần, để nước chúng tôi được tắm gội trong dư ân...
Lúc đó sứ bộ liền phát công văn đáp:
“Trước đã dụ các ngươi về đại nghĩa quân thần, chí lý công tư, các ngươi vẫn cố chấp không hiểu, lại còn khéo léo ngụy biện nhiều lời. Viện Bộ ta phụng sắc chỉ diện dụ Lê chủ, dù có quốc tang cũng phải đoạt tình tạm ngừng, tiếp sắc rồi mới cử hành lễ tang, huống chi là tang riêng của họ khác? [奪情 Đoạt tình: Lễ chế Nho giáo: khi quan trọng hoặc quân vương có tang, nếu quốc sự khẩn cấp, vua có thể ra lệnh "cắt đứt tang chế" để tiếp tục trị lý hoặc tiếp sứ. Sứ thần dùng nguyên tắc này để buộc triều đình Lê-Trịnh ưu tiên "thiên mệnh" hơn "tư tang"].
Các ngươi nói: trước kia hai vị Phạm, Mã giao sắc tại công quán. Cái gì? Phạm, Mã dám sánh với Viện Bộ ta bàn về đương chỉ? Họ chỉ là viên sai phái của Đốc phủ giao sắc mà thôi [范、馬二位: Chỉ sứ bộ nhà Thanh trước đó (khả dĩ là Phạm Văn Tuấn & Mã Hùng hoặc tương tự, hoạt động khoảng 1661–1664). Họ thực hiện nghi thức Công Quán giao 公館交 (giao sắc tại công quán, không diện kiến vua), nên phía Việt dùng làm tiền lệ xin giản lược. Sứ thần Lý-Dương bác bỏ vì nhấn mạnh mình là đặc mệnh trực tiếp của Hoàng đế)]. Nay Viện Bộ ta là do Hoàng thượng đích thân tiễn tại điện, mật thừa thiên ngữ, ngự tứ yến tiệc, mệnh diện dụ Lê Vương. Giao sắc và đặc giản vốn khác nhau, chuyển giao và diện dụ đều có lai lịch. Viện Bộ ta không diện kiến Lê Vương tức là trái chỉ.
Ta dạy các ngươi đại nghĩa quân thần, mà các ngươi lại mở lời phạm thượng, trái chỉ, vậy thì lấy gì để trách kẻ khác có tâm địa như chó lợn? Đến như các ngươi nói "trải đời trọng thân tộc, không như công thần tầm thường". Vốn là bề tôi thì như nhau, công dẫu lớn vẫn là bề tôi, há có phân tầm thường hay không tầm thường? Nếu là ngoại thích họ hàng, càng dễ gây nghi kỵ, Mã Viện không được liệt vào Vân Đài, các ngươi đã biết, chẳng phải là người có công nhưng không thân thích đó sao? [椒房外戚 / 馬援不列雲臺椒房: chỉ cung điện hoàng hậu, ám chỉ ngoại thích. Vân Đài các: nơi Đông Hán Minh Đế cho vẽ ảnh 28 công thần khai quốc. Mã Viện (Phục Ba tướng quân) có công lớn dẹp Giao Chỉ nhưng không được liệt vào Vân Đài vì là ngoại thích (em vợ Quang Vũ Đế). Sứ thần dùng điển này để bác bỏ lập luận "công lớn thì được đặc cách": dù công cao, vẫn phải giữ lễ quân thần, không thể vì tư thân mà vượt chế].
Tóm lại, sắc chỉ ở đây, trì hoãn nhiều ngày, các ngươi không chịu lĩnh mệnh, Viện Bộ ta sao dám bỏ mặc? Hãy mau tâu Vương, chọn ngày lành mở đọc, chớ lại kéo dài chống chế, để việc cung thuận xưa nay bỗng [bị] chốc phế bỏ, thật không phải sách lược hay. Suy nghĩ đi, suy nghĩ đi! Đặc dụ.
Lại nói riêng với thông dịch viên rằng: Việc chúng ta đến đây là việc nhỏ, tội kháng chỉ mới là lớn. Việc trong sắc chỉ, sau khi mở đọc, mặc các ngươi bàn bạc thỏa đáng, dẫu có kéo dài vài ngày cũng không sao. Chỉ là nay không chịu nghênh tiếp, ấy là đại bất kính. Nếu còn như vậy, Viện Bộ ta sẽ lập tức lên ngựa vào ải. Tâu thỉnh chỉ ý, về sau dẫu các ngươi có muốn cầu ta mở đọc, ta cũng không nghe nữa. Đến như phụ quốc họ Trịnh, cũng là lão thần nước các ngươi, mẹ ngài 95 tuổi, cũng là hiếm có. Nay ngài mất trọn vẹn, lại gặp lúc Viện Bộ ta vừa đến, đợi sau khi mở đọc, Viện Bộ ta cũng có nghĩa vụ tế điện, chớ nên nghi ngại ngăn trở, để tình lễ đều bỏ, quan hệ không nhỏ. Hiện nay nước các ngươi bắt giữ Dương Nhị, Dương Tam [楊二、楊三: Thủ lĩnh phỉ nổi loạn vùng biên Quảng Tây–Lạng Sơn những năm 1650–1660. Từng bị quân Thanh & quan lại địa phương bắt giữ. Phía Việt nhắc đến để so sánh "trọng thần lĩnh sắc trước đây cũng từng làm việc quân sự/bắt phỉ", ám chỉ sứ bộ hiện tại không cần quá câu nệ nghi lễ], vốn là [thủ lĩnh nổi loạn nhưng lại là người do nhà Thanh quản]
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ngày 23, Đồng Tồn Trạch v.v. lại dâng trình, đại lược nói:
- Trước kia các ông Ngô, Trình [吳、程諸公: Chỉ sứ bộ nhà Thanh trước đó (khả dĩ là Ngô Đạt Thiện & Trình Triệt hoặc tương tự, hoạt động 1664–1666), phụng mệnh tế lễ & sách phong Lê Huyền Tông] phụng sắc đến ải, lập tức sao chép truyền bá cho rõ. Nay lại mạo muội trình bày, mong được báo biết lý do sự việc, để tiện tâu Vương nghênh tiếp, tránh sai lầm chậm trễ.
Sứ bộ lập tức gọi quan sai Bộ Binh là Ngụy Tượng Hiền, cùng quan bưng sắc là Triệu Quang Húc (Lại mục châu Long Anh), cả hai đều từng đi cùng chuyến này trước đây, tra hỏi kỹ việc có sao chép báo cáo hay không. Hai người đều đối chất rõ ràng: Hoàn toàn không có chuyện đó, rõ ràng là lời chống chế. Sứ bộ liền phát công văn đáp:
“Hoàng thượng nhân đức chí thánh, xem Trung ngoại như một nhà, nghĩ nước các ngươi cung thuận đã lâu, nên càng ra sức vỗ về. Nay phái hai sứ thần phụng sắc tuyên dụ, chính là để bày tỏ lòng thành công khai, ý chí yêu nuôi vỗ về hết mực, tuyệt không có ý khác, hà tất phải hồ nghi? Dựa theo lời các ngươi thỉnh thị... Nhưng Viện Bộ ta phụng mật chỉ, vốn khác với các ông Ngô, Trình trước kia phụng sắc tế lễ sách phong, được sao công báo (Đê báo). Sao dám tiết lộ trước hạn, tự chuốc tội vượt quyền? Việc trong sắc chỉ, sứ thần nước các ngươi có người về trước, liệu tất đã truyền biết đại lược. Sau khi mở đọc, tự nhiên thấy rõ lòng trời trong suốt. Viện Bộ ta lấy trung kính tự thệ, lại thể hiện đức ý của Hoàng thượng, tuyệt không lừa dối, không cần nhiều lần do dự, nghi ngờ trước mà giam giữ đại mệnh lâu dài. Đặc dụ.
Ngày 24, quan di là Đào Công Chính (giữ chức Kinh triệu doãn), Vũ Duy Đoạn (Hàn lâm Hiệu thảo) qua lại mạnh mẽ trình bày, cũng không có lý do khác, chỉ viện cớ nhất định phải có bản sao, nếu không thì khó mà mở đọc. Phó sứ Dương Triệu Kiệt lớn tiếng nói:
- Luật Đại Thanh quy định: phàm cận thần tiết lộ việc cơ mật quốc gia, dù không phải quân tình, nhưng để lọt ra ngoài thì xử chém. Hơn nữa Hội điển chép: Phàm chiếu thư đến phiên quốc, phần nhiều là việc cơ mật, không được tiết lộ trước. Mật chỉ lần này, ngoài Đại học sĩ, Đại Tư Mã ra, các bộ viện khác còn chưa được biết, sao dám sao chép mệnh lệnh, tự mắc trọng pháp?
Sứ bộ lập tức lấy hai sách Luật và Điển đưa ra xem. Vũ Duy Đoạn vẫn cố tranh [cãi]:
- Đều là sắc chỉ, sao không được sao phát?
Chánh sứ Lý Tiên Căn cười mà giận nói:
- Chỉ tuy giống, nhưng chữ "mật" thì khác. Hơn nữa ta không biết các ngươi làm Hiệu thảo thế nào. Bề tôi các ngươi kiêu căng vô lễ, chống mệnh triều đình, không chịu tâu báo. Lời lẽ trốn tránh phi lý của Vương các ngươi, sắp tới sẽ chuyển tâu Vương trị tội nặng. Điều các ngươi nghi ngờ, rốt cuộc là vì sắc chỉ đến vì họ Mạc, sợ trong đó có điều bất lợi cho nước các ngươi, nên mới nhiều bề nghi kỵ, như vậy cũng thật ngu xuẩn. Giả sử Triều đình phát một tờ giấy, mệnh nước các ngươi nộp đầu một người nào đó, nước các ngươi dám tiếc một cái đầu mà rốt cuộc không phụng hành sao? Nay không dùng một thước thư để kết tội, cũng không dùng sức tướng võ binh lính, mà chỉ phái hai văn sinh đến, đây chính là lòng hiếu sinh đồng nhân của Hoàng thượng, tạo phúc vô cương, tuyệt không có ý thiên lệch làm hại nước các ngươi. Sao các ngươi lại nghi ngờ trước là họa, mà tự chuốc tội kháng mạn? Viện Bộ ta chỉ trời thề ngày, mở lòng thấy thành, tuy không sao mệnh, đại ý đã rõ. Nếu có lời dối, sau này lấy gì gặp các ngươi? Các ngươi chớ nghi nữa.
[nguyên nhân thực sự của sự trì hoãn: triều đình Lê-Trịnh lo ngại sắc chỉ yêu cầu trả lại đất Cao Bằng hoặc khôi phục địa vị họ Mạc.]
 
Thông tin thớt
Đang tải

Bài viết mới

Top