[Funland] Phối cảnh khu vực Hồ Gươm với một số công trình mới

X_axe

Xe lăn
Biển số
OF-868186
Ngày cấp bằng
18/9/24
Số km
10,409
Động cơ
96,814 Mã lực
Muốn tốt, muốn đẹp, thì tổ chức thi thiết kế ý tưởng quy hoạch đi.
Dám tổ chức thi thì dù về bét em cũng sẵn sàng vắt óc làm ra 1 thứ mà tự bản thân mình sẽ có ý chí để trình bày và bảo vệ quan điểm tới nơi tới chốn.
Nói chung, với các nơi quan trọng, công trình quan trọng thì nên thi. Thi thì nhiều phương án, ý tưởng mới được mày mò, xòe ra để mổ xẻ, so sánh.
 

anhtrangvn

Xì hơi lốp
Biển số
OF-117009
Ngày cấp bằng
16/10/11
Số km
1,365
Động cơ
421,842 Mã lực
Trời má! Dâng trả gươm mà giống xin tí huyết Cụ vậy?
Em nghĩ do góc chụp, gươm đúng ra sẽ hơi ngang chứ ko chĩa mũi thẳng về Cụ rùa. Tạm gọi là ý tưởng liên quan đến tích trả gươm, còn đâu cái tay AI nhiều lúc cũng bất hợp lý lắm, ko dựa vào hoàn toàn được. :D
 

xedieu

Xe ba gác
Biển số
OF-24289
Ngày cấp bằng
17/11/08
Số km
21,179
Động cơ
503,849 Mã lực
Nơi ở
VTC1
Nói chung, với các nơi quan trọng, công trình quan trọng thì nên thi. Thi thì nhiều phương án, ý tưởng mới được mày mò, xòe ra để mổ xẻ, so sánh.
Bắt buộc phải thi, chứ không phải chỉ là “nên thi” đâu cụ ạ!
 

X_axe

Xe lăn
Biển số
OF-868186
Ngày cấp bằng
18/9/24
Số km
10,409
Động cơ
96,814 Mã lực
“Công trình” - như cụ nói - phải thi tuyển theo luật.
Đang nói quy hoạch. Điểm yếu nhất của quy hoạch này là ko có 1 câu chuyện, ko có 1 concept. Chỉ là nhặt nhạnh gắp vào
 

xedieu

Xe ba gác
Biển số
OF-24289
Ngày cấp bằng
17/11/08
Số km
21,179
Động cơ
503,849 Mã lực
Nơi ở
VTC1
Cả quy hoạch & công trình đều nên thi. Ko chỉ thi công trình. Ý cụ Kiên Khùng trên kia là thi quy hoạch
Nên thi ý tưởng quy hoach là đúng. Nên thi công trình quan trọng là không đúng, vì phải thi chứ không được phép “nên”.
 

Garrard_1967

Xe điện
Biển số
OF-844852
Ngày cấp bằng
11/12/23
Số km
2,670
Động cơ
1,089,786 Mã lực
IMG_1750164076841_1750164091089.jpg


Đây, góc chụp từ trụ trái của KHM dự kiến :D
Tây học có khác, lai lai, bia hơi lạc luộc nem chua kèm thuốc lá cuộn có tí mùi rum. Chậc, thế giới phẳng, zăng cũng thẳng nốt, đúng là toàn cầu hoá có khác ;;)
 

Dream 100

Vũ Trụ
Người OF
Biển số
OF-742387
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
56,031
Động cơ
9,434,381 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Em hiểu hạ giải là giải toả chiều cao. Ví dụ cái nhà 5 tầng hạ xuống còn 3 tầng, các tầng dưới vẫn ở ngon. :P
“Hạ giải” là thuật ngữ chuyên ngành kiến trúc - bảo tồn, dùng để chỉ việc tháo rời cấu kiện theo quy trình kiểm soát nhằm bảo quản, tu bổ hoặc phục dựng, hoàn toàn khác với “tháo dỡ” hay “phá dỡ” thông thường.

Do đó, khi sử dụng từ này, một câu hỏi đặt ra: Sau khi "hạ giải", những gì sẽ được kiểm kê, lưu giữ hay phục dựng, hay toàn bộ công trình sẽ biến mất?

Nếu công trình bị loại bỏ hoàn toàn, cách gọi trực tiếp và chính xác nhất phải là “tháo dỡ, phá bỏ”.
 

cadan

Xe lăn
Biển số
OF-151495
Ngày cấp bằng
3/8/12
Số km
13,661
Động cơ
511,589 Mã lực
về một công trình cũng đứng trong nguy cơ bị “hạ giải”… (có sự hỗ trợ của AI)

Cung Thiếu nhi Hà Nội, 36–38 LýThái Tổ không chỉ như một công trình kiến trúcmà như một chứng cứ lịch sử, một sản phẩm của kiến trúc hiện đại Việt Nam và một kho ký ức tập thể của nhiều thế hệ Hà Nội.
  • Bối cảnh ra đời: Công trình được thiết kế năm1974, xây dựng 1974–1977, đưa vào sử dụng ngày 19/2/1977, trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh, vật liệu và kỹ thuật thiếu thốn. Việc xây một cơ sở văn hóa–giáo dục quy mô lớn cho trẻ em khi ấy thể hiện niềm tin rằng dù hiện tại còn nghèo, xã hội vẫn phải đầu tư cho thế hệ tương lai.
  • Một quan niệm mới về không gian trẻ em:Cung không chỉ là một khối nhà chứa lớp học. Khối nhà được nâng trên cột, tầng dưới để thoáng, có cầu thang ngoài trời, hành lang, sân, terrace và các khoảng chuyển tiếp trong–ngoài. Trẻ em có thể học, chơi, gặp gỡ và hoạt động tập thể trong một không gian linh hoạt. Kiến trúc trở thành một phần của giáo dục.
  • Giá trị hiện đại: Cái “hiện đại” của công trình không chỉ nằm ở hình thức mà ở cách kết hợp kết cấu, công năng, khí hậu và vật liệu. Công trình có bố cục đơn giản, bất đối xứng, khônggian mở–đóng đan xen, kết hợp kiến trúc với mosaic, tranh tường, tranh kính, cây xanh vàvườn mái.
  • “Tường hoa” là giải pháp khí hậu chứ không chỉ trang trí: Các mảng claustra bê-tông vừa tạo bóng râm, giảm bức xạ, vừa giúp thông gió. Đây là tư duy kiến trúc nhiệt đới và thiết kế thụ động từ rất sớm: ưu tiên che nắng, thông gió, tạo bóng mát thay vì phụ thuộc vào thiết bị cơ khí.
  • Sáng tạo trong thiếu thốn: Công trình được tạo ra khi vật liệu, thiết bị và công nghệ đều hạn chế. Kiến trúc sư phải tận dụng những gì có sẵn, kể cả vật liệu có thể bị coi là phế thải. Vì vậy, giá trị của Cung còn nằm ở khả năng sáng tạo trong điều kiện khan hiếm.
  • Không phải công trình của Tiệp Khắc: Quan niệm phổ biến rằng “Tiệp Khắc thiết kế và xây Cung” là không chính xác. Đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư Việt Nam thiết kế công trình; phía Tiệp Khắc hỗ trợ một số thiết bị và vật tư. Vì thế, đây là kiến trúc Việt Nam trong bối cảnh hợp tác quốc tế của khối XHCN, chứ không phải một công trình Tiệp Khắc đặt tại Hà Nội.
  • Mang dấu ấn “chủ nghĩa hiện đại XHCN”:Mô hình Cung Thiếu nhi có nguồn gốc từ hệ thống thiết chế văn hóa–giáo dục của Liên Xô và các nước XHCN. Công trình vừa phục vụ học tập nghệ thuật, thể thao, khoa học, vừa gắn với sinh hoạt tập thể, Đội và giáo dục công dân. Vì vậy cần nhìn nhận cả giá trị kiến trúc lẫn bối cảnh ý thức hệ, không nên phủnhận cái này để ca ngợi hay phủ nhận cái kia.
  • Điều thú vị là công trình lại rất “vui”: Dù thuộc bối cảnh kiến trúc XHCN, Cung không nặng nề hay nghiêm nghị. Cầu thang ngoàitrời, sân, hành lang, màu sắc, tranh, mosaic vàcác mảng hình học tạo nên một không giangần với thế giới trò chơi của trẻ em.
  • Công trình chứa nhiều lớp lịch sử: Khu đất có lịch sử từ thời thuộc địa với Ấu Trĩ Viên, rồi qua Cách mạng, kháng chiến, thời kỳ xây dựng XHCN, Đổi mới và Hà Nội đương đại. Vì vậy, Cung là một lớp lịch sử chồng lên nhiều lớp lịch sử trước đó.
  • Cần bảo tồn cả quần thể, không chỉ mặt tiền: Ba thành phần quan trọng là Ấu Trĩ Viên, khối nhà chính của Lê Văn Lân và Rạp Khăn Quàng Đỏ. Giá trị nằm trong mối quan hệ giữa các khối nhà, sân, cây xanh, hành lang, cầu thang, khoảng trống, ánh sáng, bóng râm và cách con người sử dụng chúng. Giữ mỗi mặt đứng mà phá vỡ không gian tổng thể thì thựcchất không còn giữ được kiến trúc.
  • Tranh luận về cải tạo: Những lần cải tạo, đặc biệt khoảng năm 2015, đặt ra vấn đề lớn: sửa chữa để công trình tiếp tục sống hay sửa đến mức mất bản sắc? Vật liệu mới có thể tiện nghi hơn nhưng nếu làm mất ngôn ngữ nguyên bản thì giá trị di sản bị suy giảm. Bảo tồn không đồng nghĩa với đóng băng, nhưng cũng không phải “tân trang” công trình thành một thứ hoàn toàn mới.
  • Di sản không nhất thiết phải thật cổ: Cung mới khoảng nửa thế kỷ nhưng có giá trị lớn về kiến trúc, lịch sử, văn hóa, kỹ thuật và xã hội. Đây là ví dụ tiêu biểu cho quan niệm mớivề “di sản hiện đại”: một công trình trẻ vẫn có thể là di sản nếu nó mang giá trị đặc biệt.
  • Giá trị lớn nhất là ký ức: Hàng chục nghìn trẻ em từng học vẽ, học đàn, học múa, chơi thể thao, biểu diễn hoặc đơn giản là chạy trên những hành lang ấy. Nhiều người sau này trở thành nghệ sĩ; nhiều người khác không thành người nổi tiếng nhưng vẫn mang theo ký ức về Cung. Bê-tông không tự tạo ra ký ức, nhưngnó là nơi ký ức của nhiều thế hệ bám vào.
  • Vị trí trong lịch sử kiến trúc Việt Nam: Không nên giản đơn gọi đây là “kiến trúc thời bao cấp”. Nó là một thành tựu của kiến trúc hiện đại Việt Nam hậu thuộc địa, cho thấy kiến trúc sư Việt Nam đã tiếp nhận chủ nghĩa hiện đại quốc tế nhưng biến đổi nó theo khí hậu Hà Nội, vật liệu và kỹ thuật sẵn có, điều kiện kinh tế và đời sống xã hội Việt Nam.
  • Không nên đánh đồng “kiến trúc XHCN” với kiến trúc xấu: Giá trị của một công trình phải được đánh giá qua chất lượng kiến trúc, kỹ thuật, không gian, lịch sử và xã hội, đồng thờivẫn phải nhận diện bối cảnh chính trị đã tạo ra nó. Chính sự đan xen giữa lý tưởng, hệ tư tưởng, sáng tạo kiến trúc và ký ức đời sốngkhiến Cung trở thành một tư liệu lịch sử đặc biệt.
  • Nghịch lý lớn nhất: Cung được xây năm 1974 với mục tiêu hướng tới tương lai của trẻ em, nhưng ngày nay lại trở thành ký ức về quá khứ. Nó không được tạo ra để trở thành di sản; nó trở thành di sản vì đã thực sự sống qua nhiều thời kỳ và nhiều thế hệ.
 
Chỉnh sửa cuối:

hoaoaihuong02

Xe tải
Biển số
OF-912044
Ngày cấp bằng
15/7/26
Số km
365
Động cơ
8,835 Mã lực
Tuổi
21
“Hạ giải” là thuật ngữ chuyên ngành kiến trúc - bảo tồn, dùng để chỉ việc tháo rời cấu kiện theo quy trình kiểm soát nhằm bảo quản, tu bổ hoặc phục dựng, hoàn toàn khác với “tháo dỡ” hay “phá dỡ” thông thường.

Do đó, khi sử dụng từ này, một câu hỏi đặt ra: Sau khi "hạ giải", những gì sẽ được kiểm kê, lưu giữ hay phục dựng, hay toàn bộ công trình sẽ biến mất?

Nếu công trình bị loại bỏ hoàn toàn, cách gọi trực tiếp và chính xác nhất phải là “tháo dỡ, phá bỏ”.
Có khi nào hạ giải là từ làm mềm đi của “tháo dỡ, phá bỏ”? Hạ xuống đã, dựng lại hay ko là chuyện khác, từ từ tính tiếp, để lâu lâu … trâu hoá bùn =))

Chuyện 2 bác sỹ ngoại khoa & nội khoa cùng chữa 1 thằng trúng tên. :P
 
Chỉnh sửa cuối:

X_axe

Xe lăn
Biển số
OF-868186
Ngày cấp bằng
18/9/24
Số km
10,409
Động cơ
96,814 Mã lực
về một công trình cũng đứng trong nguy cơ bị “hạ giải”… (có sự hỗ trợ của AI)

Cung Thiếu nhi Hà Nội, 36–38 LýThái Tổ không chỉ như một công trình kiến trúcmà như một chứng cứ lịch sử, một sản phẩm của kiến trúc hiện đại Việt Nam và một kho ký ức tập thể của nhiều thế hệ Hà Nội.
  • Bối cảnh ra đời: Công trình được thiết kế năm1974, xây dựng 1974–1977, đưa vào sử dụng ngày 19/2/1977, trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh, vật liệu và kỹ thuật thiếu thốn. Việc xây một cơ sở văn hóa–giáo dục quy mô lớn cho trẻ em khi ấy thể hiện niềm tin rằng dù hiện tại còn nghèo, xã hội vẫn phải đầu tư cho thế hệ tương lai.
  • Một quan niệm mới về không gian trẻ em:Cung không chỉ là một khối nhà chứa lớp học. Khối nhà được nâng trên cột, tầng dưới để thoáng, có cầu thang ngoài trời, hành lang, sân, terrace và các khoảng chuyển tiếp trong–ngoài. Trẻ em có thể học, chơi, gặp gỡ và hoạt động tập thể trong một không gian linh hoạt. Kiến trúc trở thành một phần của giáo dục.
  • Giá trị hiện đại: Cái “hiện đại” của công trình không chỉ nằm ở hình thức mà ở cách kết hợp kết cấu, công năng, khí hậu và vật liệu. Công trình có bố cục đơn giản, bất đối xứng, khônggian mở–đóng đan xen, kết hợp kiến trúc với mosaic, tranh tường, tranh kính, cây xanh vàvườn mái.
  • “Tường hoa” là giải pháp khí hậu chứ không chỉ trang trí: Các mảng claustra bê-tông vừa tạo bóng râm, giảm bức xạ, vừa giúp thông gió. Đây là tư duy kiến trúc nhiệt đới và thiết kế thụ động từ rất sớm: ưu tiên che nắng, thông gió, tạo bóng mát thay vì phụ thuộc vào thiết bị cơ khí.
  • Sáng tạo trong thiếu thốn: Công trình được tạo ra khi vật liệu, thiết bị và công nghệ đều hạn chế. Kiến trúc sư phải tận dụng những gì có sẵn, kể cả vật liệu có thể bị coi là phế thải. Vì vậy, giá trị của Cung còn nằm ở khả năng sáng tạo trong điều kiện khan hiếm.
  • Không phải công trình của Tiệp Khắc: Quan niệm phổ biến rằng “Tiệp Khắc thiết kế và xây Cung” là không chính xác. Đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư Việt Nam thiết kế công trình; phía Tiệp Khắc hỗ trợ một số thiết bị và vật tư. Vì thế, đây là kiến trúc Việt Nam trong bối cảnh hợp tác quốc tế của khối XHCN, chứ không phải một công trình Tiệp Khắc đặt tại Hà Nội.
  • Mang dấu ấn “chủ nghĩa hiện đại XHCN”:Mô hình Cung Thiếu nhi có nguồn gốc từ hệ thống thiết chế văn hóa–giáo dục của Liên Xô và các nước XHCN. Công trình vừa phục vụ học tập nghệ thuật, thể thao, khoa học, vừa gắn với sinh hoạt tập thể, Đội và giáo dục công dân. Vì vậy cần nhìn nhận cả giá trị kiến trúc lẫn bối cảnh ý thức hệ, không nên phủnhận cái này để ca ngợi hay phủ nhận cái kia.
  • Điều thú vị là công trình lại rất “vui”: Dù thuộc bối cảnh kiến trúc XHCN, Cung không nặng nề hay nghiêm nghị. Cầu thang ngoàitrời, sân, hành lang, màu sắc, tranh, mosaic vàcác mảng hình học tạo nên một không giangần với thế giới trò chơi của trẻ em.
  • Công trình chứa nhiều lớp lịch sử: Khu đất có lịch sử từ thời thuộc địa với Ấu Trĩ Viên, rồi qua Cách mạng, kháng chiến, thời kỳ xây dựng XHCN, Đổi mới và Hà Nội đương đại. Vì vậy, Cung là một lớp lịch sử chồng lên nhiều lớp lịch sử trước đó.
  • Cần bảo tồn cả quần thể, không chỉ mặt tiền: Ba thành phần quan trọng là Ấu Trĩ Viên, khối nhà chính của Lê Văn Lân và Rạp Khăn Quàng Đỏ. Giá trị nằm trong mối quan hệ giữa các khối nhà, sân, cây xanh, hành lang, cầu thang, khoảng trống, ánh sáng, bóng râm và cách con người sử dụng chúng. Giữ mỗi mặt đứng mà phá vỡ không gian tổng thể thì thựcchất không còn giữ được kiến trúc.
  • Tranh luận về cải tạo: Những lần cải tạo, đặc biệt khoảng năm 2015, đặt ra vấn đề lớn: sửa chữa để công trình tiếp tục sống hay sửa đến mức mất bản sắc? Vật liệu mới có thể tiện nghi hơn nhưng nếu làm mất ngôn ngữ nguyên bản thì giá trị di sản bị suy giảm. Bảo tồn không đồng nghĩa với đóng băng, nhưng cũng không phải “tân trang” công trình thành một thứ hoàn toàn mới.
  • Di sản không nhất thiết phải thật cổ: Cung mới khoảng nửa thế kỷ nhưng có giá trị lớn về kiến trúc, lịch sử, văn hóa, kỹ thuật và xã hội. Đây là ví dụ tiêu biểu cho quan niệm mớivề “di sản hiện đại”: một công trình trẻ vẫn có thể là di sản nếu nó mang giá trị đặc biệt.
  • Giá trị lớn nhất là ký ức: Hàng chục nghìn trẻ em từng học vẽ, học đàn, học múa, chơi thể thao, biểu diễn hoặc đơn giản là chạy trên những hành lang ấy. Nhiều người sau này trở thành nghệ sĩ; nhiều người khác không thành người nổi tiếng nhưng vẫn mang theo ký ức về Cung. Bê-tông không tự tạo ra ký ức, nhưngnó là nơi ký ức của nhiều thế hệ bám vào.
  • Vị trí trong lịch sử kiến trúc Việt Nam: Không nên giản đơn gọi đây là “kiến trúc thời bao cấp”. Nó là một thành tựu của kiến trúc hiện đại Việt Nam hậu thuộc địa, cho thấy kiến trúc sư Việt Nam đã tiếp nhận chủ nghĩa hiện đại quốc tế nhưng biến đổi nó theo khí hậu Hà Nội, vật liệu và kỹ thuật sẵn có, điều kiện kinh tế và đời sống xã hội Việt Nam.
  • Không nên đánh đồng “kiến trúc XHCN” với kiến trúc xấu: Giá trị của một công trình phải được đánh giá qua chất lượng kiến trúc, kỹ thuật, không gian, lịch sử và xã hội, đồng thờivẫn phải nhận diện bối cảnh chính trị đã tạo ra nó. Chính sự đan xen giữa lý tưởng, hệ tư tưởng, sáng tạo kiến trúc và ký ức đời sốngkhiến Cung trở thành một tư liệu lịch sử đặc biệt.
  • Nghịch lý lớn nhất: Cung được xây năm 1974 với mục tiêu hướng tới tương lai của trẻ em, nhưng ngày nay lại trở thành ký ức về quá khứ. Nó không được tạo ra để trở thành di sản; nó trở thành di sản vì đã thực sự sống qua nhiều thời kỳ và nhiều thế hệ.
Có lẽ nên giữ cung thiếu nhi? chuyển UB TP sang chỗ quảng trường thời đại, lùi xa hồ --- giáp Lý Thái Tổ thì hợp lý hơn?

Bảo tàng cách mạng (bảo tàng lịch sử 2) thì ko nhiều ký ức, chứ cung thiếu nhi thì ký ức rất nhiều. Mà kiến trúc cũng ko phải xấu
 
Chỉnh sửa cuối:

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
24,269
Động cơ
17,911,702 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Vậy hạ giải là từ làm mềm đi của “tháo dỡ, phá bỏ”? Hạ xuống đã, dựng lại hay ko là chuyện khác, từ từ tính tiếp, để lâu lâu … trâu hoá bùn =))

Chuyện 2 bác sỹ ngoại khoa & nội khoa cùng chữa 1 thằng trúng tên. :P
Hạ giải = shoot down + khiêng đi L-)
 

comiki

Xe ba gác
Người OF
Biển số
OF-504527
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
24,269
Động cơ
17,911,702 Mã lực
Nơi ở
Hà Nội
Trên FB mấy nay thấy nhiều page share bài viết của Hung Vu nói về việc nhóm ông HTT tu bổ, tôn tạo NHL hồi năm 1997. Nhưng việc "tu bổ, tôn tạo" đó đã phá hỏng hoàn toàn thiết kế ban đầu vốn để đảm bảo chất lượng âm thanh đỉnh cao của một Nhà hát Opera, khiến cho "tiếng đàn, tiếng hát tại NHL đã không còn được nghe rõ, nghe chuẩn, nghe trung thực như trước khi tu bổ suốt cả trăm năm". Ngoài ra, còn vài vấn đề khác nữa. Ko biết thực hư đến đâu :-/
 

Trục

Xe ngựa
Biển số
OF-36688
Ngày cấp bằng
6/6/06
Số km
28,921
Động cơ
825,269 Mã lực
Khải hoàn môn hử, em thấy nó giống cái cổng selfie cho đám tuổi teen.
Công khải hoàn môn thì phải đặt ở Hoàng Thành và trên 1 con đường.
Cái UBND thành phố mà được đặt ở đây cũng không phù hợp, quỹ đất thiếu gì mà đưa vào đây. UBND là nơi phải tiện đi lại cho nhân dân, làm ra làm, chơi ra chơi, ai lại để UB ở chỗ nhân dân đi chơi vậy.
 
Thông tin thớt
Đang tải

Bài viết mới

Top