[Funland] Tiện bút của Cao Việt Dũng: Trai Hà Nội như thế nào?

Kiên Khùng

Xe container
Biển số
OF-785718
Ngày cấp bằng
27/7/21
Số km
8,713
Động cơ
627,917 Mã lực
Ngoài HN chắc mưa to ngập lụt, các cụ ở nhà bí bách không ra ngoài được, chỉ được ngắm mà không chạy tới sờ được. Khổ thân các cụ.

photo_2026-09-18 21.25.28.jpeg


Haizz, mấy ai được như GS phuongmit, GS nhỉ, càng có tuổi lại càng có vận khí, có điều vẫn lơ đễnh như hồi nhỏ lúc chụp ảnh ấy.
39c6f752aeec6d456489b136978a9fb5.png
Cụ cũng thế. Hơn được cái wifi nên mới có hình ây ai...😉
 

Nhimtiu

Xe lăn
Biển số
OF-210290
Ngày cấp bằng
16/9/13
Số km
14,575
Động cơ
594,351 Mã lực
Mưa! Ốm rồi hay sao?? 🤭🤭🤭

chúng em giăng díu mãi mới dứt ra về đc, chắc lũ này hnay tím đầu gối với thượng thư, tể tướng tại gia ồi 🤭🤭🤭

IMG_3958.jpeg
Cụ có cần em PM cho em Mưa! vào hầu chuyện cụ không nào? Nay làm gì mà có vẻ khó ngủ hả cụ hay lại thiếu người gãi lưng nhể. =))
 

Thỏ móm

Xe container
Biển số
OF-542866
Ngày cấp bằng
24/11/17
Số km
7,249
Động cơ
242,003 Mã lực
Nơi ở
Vườn cà rốt màu mỡ

Thỏ móm

Xe container
Biển số
OF-542866
Ngày cấp bằng
24/11/17
Số km
7,249
Động cơ
242,003 Mã lực
Nơi ở
Vườn cà rốt màu mỡ
Ngoài HN chắc mưa to ngập lụt, các cụ ở nhà bí bách không ra ngoài được, chỉ được ngắm mà không chạy tới sờ được. Khổ thân các cụ.

photo_2026-09-18 21.25.28.jpeg


Haizz, mấy ai được như GS phuongmit, GS nhỉ, càng có tuổi lại càng có vận khí, có điều vẫn lơ đễnh như hồi nhỏ lúc chụp ảnh ấy.
39c6f752aeec6d456489b136978a9fb5.png
Anh Găng xỏ xiên chúng ta đấy các bác ơi... :((
 

XPQ

Xe ba gác
Biển số
OF-25733
Ngày cấp bằng
13/12/08
Số km
20,498
Động cơ
580,581 Mã lực
Nơi ở
Trỏng
Nhầm lẫn về lịch sử dẫn tới ngộ nhận
01/02/2016 15:13
Đánh giá khách quan, trung thực, chính xác về các sự kiện, nhân vật lịch sử là yêu cầu hết sức cần thiết, vì điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với lịch sử, mà còn có ý nghĩa đối với hiện tại. Do đó, trước hiện tượng chỉ căn cứ vào đóng góp của một số cá nhân để vinh danh, đề cao “công trạng” mà bỏ qua lỗi lầm lịch sử của họ là điều cần được cảnh báo.
Vừa qua, việc xuất bản cuốn hồi ký Xứ Đông Dương của Paul Doumer (P.Đu-me, 1857 - 1932) - toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897 - 1902, đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Trên một số tờ báo, nội dung cuốn sách được giới thiệu chi tiết: “Đó là quá trình xây dựng những cây cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, cầu Thành Thái (Tràng Tiền) tại sông Hương hay cầu Bình Lợi trên sông Sài Gòn. Đó là sự quyết tâm của Doumer trong việc xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt. Đó là việc Hà Nội, dưới thời cai trị của Paul, trở thành thành phố châu Á đầu tiên có điện”… Cùng với đó là lời ca ngợi: “Công bằng mà nói, P.Doumer đã làm được rất nhiều việc cho xứ Đông Dương”, “chính ý chí, quyết tâm, lòng kiên trì và tầm nhìn xa của một chính khách không coi thuộc địa mình cai trị như một nơi để bóc lột, mà ngược lại là mảnh đất để thực hiện những tham vọng đã góp phần tạo nên những công trình ấy... Và hơn cả việc gìn giữ một cuốn sách đặc biệt, việc chuyển thể Xứ Đông Dương thuộc Pháp cũng là một cách tri ân những đóng góp của chính P.Doumer với Việt Nam, hay mong mỏi về việc tái hiện lại một Đông Dương rất đáng nhớ trong ký ức của không ít người”, “Những suy nghĩ và đánh giá của ông rất sâu sắc và rất khác với cách suy nghĩ của nhiều tác giả khác ở Đông Dương. Bởi vậy, cuốn hồi ký của ông tái hiện một góc nhìn rất mới về một giai đoạn lịch sử của Việt Nam nói riêng và các nước Đông Dương nói chung giai đoạn từ 1897 - 1902”… Các “thành tích” được liệt kê, ngợi ca như vậy rất dễ khiến người đọc lầm tưởng P.Doumer đã có công “khai sáng” cho Việt Nam trong giai đoạn làm toàn quyền tại Đông Dương.
Có một sự thật không ai có thể phủ nhận là P.Doumer đến Việt Nam với vai trò một viên quan thực dân và đương nhiên, ông phải tìm mọi cách để phục vụ lợi ích của nước Pháp. Trên thực tế, trong thời gian ở Việt Nam ông đã rất mẫn cán “bình định” bằng bất cứ giá nào, rồi xây dựng bộ máy cai trị thực dân thay thế chế độ cai trị của nhà Nguyễn, khai thác tài nguyên, bóc lột đến cùng kiệt sức lao động của người bản xứ. “Công tích” của P.Doumer trong mấy năm ở Đông Dương rất cụ thể: “Dưới triều đại P.Doumer, 3 sắc thuế được đẩy mạnh hết mức là thuốc phiện, muối và rượu. Của cải bòn rút từ người dân qua 3 sắc thuế ấy đóng vào ngân sách thuộc địa tăng từ 20 triệu đồng Đông Dương (Đ) năm 1899 lên 33 triệu Đ năm 1902, rồi vọt lên 42 triệu Đ năm 1911. Lợi nhuận của Ngân hàng Đông Dương cũng tăng theo chiều thuận với tăng thuế. Theo một nhà sử học Pháp, “công tích chính của Doumer tại Đông Dương” là tăng thuế. Ở Trung Kỳ, thuế thân và thuế ruộng đất trước ngày ông tới Việt Nam nhậm chức mới 83.000 Đ, sau đó vọt lên 2 triệu Đ năm 1899 - năm thứ 2 nhiệm kỳ toàn quyền. Ở Bắc Kỳ, 2 sắc thuế ấy cũng tăng nhanh, đạt gần 5 triệu Đ năm 1907. Trong khi đó, mọi loại thuế má người Pháp làm việc tại Đông Dương phải đóng góp vào ngân sách vỏn vẹn có 9.000 Đ/năm! Ở Nam Bộ, công cuộc khai thác và tập trung hóa ruộng đất đẩy nhanh hết cỡ: Từ 522.000 ha ruộng lúa năm 1880 tăng vọt lên 1.175.000 ha 10 năm sau. Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long trở thành nguồn xuất khẩu lớn nhất châu Á. Trên thực tế, P. Doumer đã tạo dựng cơ sở để khi chiến tranh thế giới nổ ra, nước Việt Nam nghèo đói phải oằn mình cho “rồng Nam phun bạc, đánh đổ Đức tặc”, phục vụ chiến thắng của mẫu quốc” (Phan Quang: P.Doumer: Ba mặt một con người - báo Người lao động, 11.10.2009), “năm 1897, chỉ trong vài tuần lễ, một cơn mưa đá thực sự đổ xuống. Tăng thuế thân và thuế địa ốc, thuế của những người không đăng ký, thuế đăng ký sắc phong của các quan, thuế diêm, thuế quế, thuế giấy có đóng dấu, thuế muối, rượu, thuyền trên sông, giấy phép đốn gỗ, thuế thuốc lào, thuế cau, thuế củi, thậm chí cả thuế rơm thuế rạ để lợp những cái lều thảm hại nhất...” (trích từ cuốn Những sai lầm và nguy hiểm, NXB Charpentier, 1902, tác giả là đại úy Fernand Bernard). Và không có gì đáng tin hơn về tội ác của người Pháp dưới quyền P. Doumer đã thực hiện ở Việt Nam qua lời kể của viên đại úy kể trên viết trong bức thư gửi về Pháp ngày 1-1-1898: “vào hôm sau ngày xảy ra vụ manh động cho chặt và bêu 54 cái đầu. Trong vài ngày tiếp theo, người ta đã hành hình 200 người An Nam, trong số đó có cả những đứa nhóc 14 tuổi, với cái tội là đã làm rối giấc ngủ của những vị quan cai trị của chúng ta… Tất cả những điều này thật đáng nôn mửa” (Người Pháp và người Annam - Bạn hay thù? - P. Devillers, Ngô Văn Quỹ dịch, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006)…

Như vậy, liệu có thể coi nỗ lực mở đường, xây cầu, tăng cường giao thương mà P.Doumer đã tiến hành là vì sự phát triển của Việt Nam? Câu trả lời là không! Chính ông ta nói rõ trong hồi ức của mình về động cơ của những việc làm này: “Toàn quyền Đông Dương phải tìm cách tạo ra các nguồn tài chính cần thiết cho việc xây dựng mạng đường sắt bằng cách tăng thêm các khoản thu ở những xứ thành viên của Đông Dương có ngân sách thu ít nhất. Như thế mới gây được niềm tin cho giới tư bản ở Pháp. Chính họ mới là chỗ dựa của chúng ta, chúng ta phải kêu gọi họ tới đầu tư ở Đông Dương dưới dạng này hay một dạng khác”. (Nguyễn Văn Trường trích dịch từ cuốn L’Indochine Française (Souvenirs) NXB Vuibert & Nony, Paris, 1903). Từ góc nhìn đó sẽ thấy việc chính quyền thực dân ở Việt Nam dưới sự điều hành của P.Doumer xây dựng hệ thống giao thông nhằm phục vụ quá trình khai thác thuộc địa thuận lợi hơn; mở mang các khu đô thị hành chính để thiết lập bộ máy cai trị của chế độ thực dân,… Tương tự, việc P. Doumer khảo sát cao nguyên Langbiang lập ra TP Đà Lạt, lắp điện ở Hà Nội, xây nhà bưu điện, nha khí tượng, nhà thương đều để phục vụ người Pháp chứ không dành cho người bản xứ… Vì vậy thật là nực cười nếu gắn cho P.Doumer “công trạng xây dựng, mở mang, phát triển” Việt Nam, mà quên (cố tình quên?) ông thật sự là ai!
........

Em thì oánh giá cụ Me này có công lớn trong việc kiến thiết Đông Dương thuộc địa, đặt ra tầm nhìn quy hoạch phát triển kinh tế cho toàn xứ Đông Pháp và đặc biệt đã đặt Hà Nội vào vị thế đô thị thuộc địa hàng đầu của Đông Pháp.
Còn bài báo trên có chi tiết về thành tích tăng thuế, nếu nghĩ sâu hơn ta sẽ có câu hỏi " Tiền thuế hơn 5 triệu bạc ấy đi đâu?" thì câu giả nhời có ngay trong hồi ký của cụ Me. Trước khi cụ đến, ngân sách Đông Dương trông chờ vào Pháp cuốc và bị đổ hết vào nuôi bộ máy quan liêu, sau năm thứ hai Đông Dương đã tự chủ ngân sách và có tiền cho các dự án xây dựng.
Dĩ nhiên, khi Đông Dương là thuộc địa Pháp, các cái thành tịu ấy của cụ Me là để phục vụ Đại Pháp. Đông Dương tinh hoa chỉ là một nhóm nhỏ được hưởng ké.
 

XPQ

Xe ba gác
Biển số
OF-25733
Ngày cấp bằng
13/12/08
Số km
20,498
Động cơ
580,581 Mã lực
Nơi ở
Trỏng
Tôi đã có nhiều cuộc trắc nghiệm, chủ yếu là so sánh đối chiếu những gì tôi tưởng tượng trước kia với thực tại Hà Nội, với miền Bắc. ở mổi con người, đường đất, ở các mùa, các ngõ phố, đầu ô. Những trắc nghiệm nầy của tôi diễn ra thường trực, rất xảo diệu, tinh vi, nhưng hoàn toàn thầm lặng. Chỉ có mỗi mình tôi biết. Có lẽ tôi đã đi vòng quanh bờ Hồ hằng trăm lượt. Có lẽ tôi đã tản bộ lên mạn Hồ Tây hằng mấy mươi lần. Sau khi rà rè ngắm nhìn con đường nhỏ êm đềm có tên gọi là Cổ Ngư ở giữa Hồ Tây và hồ Trúc Bạch, tôi thừa nhận nó quả xứng hợp để các tiểu thuyết gia xứ Bắc đưa các cuộc tình đi ngang qua đó. Nhưng thú thực tôi không thích về sau nầy khi mở rộng đường, người ta lại đổ luôn tên đường. Hãy cứ là Cổ Ngư, như có lần vào một buổi sáng tinh mơ của mùa thu, ta đến đây, lắng nghe tiếng khua gõ lắc cắc dồn cá vào lưới từ những chiếc thuyền nam mờ ảo sau làn sương sớm. Hãy cứl à Cổ Ngư trong một chiều nhàn rỗi, ta rẽ vào lối dẫn ra chùa Trấn Quốc,ngồi trò chuyện với vị sư trụ trì. Vá quá giang một chiếc thuyền thúng, ta cặp bờ xanh mượt của đảo nhỏ nằm bên Trúc Bạch, nơi có cái đền mang tên Cẩu Nhi mà về sau do lòng tham đã sinh ra một sự cố tuy nhỏ nhưng đau lòng.Lấy tập sách "Hà Nội băm sáu phố phường" của Thạch Lam làm khung chỉ dẫn,tôi tìm kiếm nếm thử các món quà Hà Nội mà nhà văn nầy đã tuỳ cảm liệt kê,bởi khi đó các món nầy hầu như còn đủ. Tôi đã chấm chiếc bánh cuốn Thanh Trì vào chén nước mắm rỏ giọt cà cuống thiệt. Cả cái món gọi là "cốc bểu",món bánh trôi Tàu nóng trên ngõ Tạ Hiền tôi cũng đã nếm. nhưng món quà thường trực, món quà tôi đánh giá cao vẫn là phở Hà Nội, bao gồm phở bò và phở gà, hồi những năm ấy. Ví dụ như phở Tư Lùn ở chếch ngang nhà bách hoá tổng hợp Tràng Tiền. Phở ga,tức là mấy hiệu phở ở đường Nam Bộ cũng rất khá. Nếu ăn phở gà thì tôi tới cái hiệu ở đường Công chúa Huyền Trân.

Thêm một đoạn về Hà Nội của nhà văn Anh Đức.
Một chi tiết nhỏ tương hợp với chúng mình bây giờ. Ấy là cái ước muốn của cụ Anh Đức đóng băng cái hiện thực khi ấy của đường Cổ Ngư. Cũng giống bây giờ, ít nhiều trong chúng mình và trong số chúng mình cũng ước như thế với hiện thực bây giờ.
Có đúng không và có đáng không?
 

omerta77

Xe container
Biển số
OF-35686
Ngày cấp bằng
21/5/09
Số km
7,172
Động cơ
181,950 Mã lực
Nhầm lẫn về lịch sử dẫn tới ngộ nhận
01/02/2016 15:13
Đánh giá khách quan, trung thực, chính xác về các sự kiện, nhân vật lịch sử là yêu cầu hết sức cần thiết, vì điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với lịch sử, mà còn có ý nghĩa đối với hiện tại. Do đó, trước hiện tượng chỉ căn cứ vào đóng góp của một số cá nhân để vinh danh, đề cao “công trạng” mà bỏ qua lỗi lầm lịch sử của họ là điều cần được cảnh báo.
Vừa qua, việc xuất bản cuốn hồi ký Xứ Đông Dương của Paul Doumer (P.Đu-me, 1857 - 1932) - toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897 - 1902, đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Trên một số tờ báo, nội dung cuốn sách được giới thiệu chi tiết: “Đó là quá trình xây dựng những cây cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, cầu Thành Thái (Tràng Tiền) tại sông Hương hay cầu Bình Lợi trên sông Sài Gòn. Đó là sự quyết tâm của Doumer trong việc xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt. Đó là việc Hà Nội, dưới thời cai trị của Paul, trở thành thành phố châu Á đầu tiên có điện”… Cùng với đó là lời ca ngợi: “Công bằng mà nói, P.Doumer đã làm được rất nhiều việc cho xứ Đông Dương”, “chính ý chí, quyết tâm, lòng kiên trì và tầm nhìn xa của một chính khách không coi thuộc địa mình cai trị như một nơi để bóc lột, mà ngược lại là mảnh đất để thực hiện những tham vọng đã góp phần tạo nên những công trình ấy... Và hơn cả việc gìn giữ một cuốn sách đặc biệt, việc chuyển thể Xứ Đông Dương thuộc Pháp cũng là một cách tri ân những đóng góp của chính P.Doumer với Việt Nam, hay mong mỏi về việc tái hiện lại một Đông Dương rất đáng nhớ trong ký ức của không ít người”, “Những suy nghĩ và đánh giá của ông rất sâu sắc và rất khác với cách suy nghĩ của nhiều tác giả khác ở Đông Dương. Bởi vậy, cuốn hồi ký của ông tái hiện một góc nhìn rất mới về một giai đoạn lịch sử của Việt Nam nói riêng và các nước Đông Dương nói chung giai đoạn từ 1897 - 1902”… Các “thành tích” được liệt kê, ngợi ca như vậy rất dễ khiến người đọc lầm tưởng P.Doumer đã có công “khai sáng” cho Việt Nam trong giai đoạn làm toàn quyền tại Đông Dương.
Có một sự thật không ai có thể phủ nhận là P.Doumer đến Việt Nam với vai trò một viên quan thực dân và đương nhiên, ông phải tìm mọi cách để phục vụ lợi ích của nước Pháp. Trên thực tế, trong thời gian ở Việt Nam ông đã rất mẫn cán “bình định” bằng bất cứ giá nào, rồi xây dựng bộ máy cai trị thực dân thay thế chế độ cai trị của nhà Nguyễn, khai thác tài nguyên, bóc lột đến cùng kiệt sức lao động của người bản xứ. “Công tích” của P.Doumer trong mấy năm ở Đông Dương rất cụ thể: “Dưới triều đại P.Doumer, 3 sắc thuế được đẩy mạnh hết mức là thuốc phiện, muối và rượu. Của cải bòn rút từ người dân qua 3 sắc thuế ấy đóng vào ngân sách thuộc địa tăng từ 20 triệu đồng Đông Dương (Đ) năm 1899 lên 33 triệu Đ năm 1902, rồi vọt lên 42 triệu Đ năm 1911. Lợi nhuận của Ngân hàng Đông Dương cũng tăng theo chiều thuận với tăng thuế. Theo một nhà sử học Pháp, “công tích chính của Doumer tại Đông Dương” là tăng thuế. Ở Trung Kỳ, thuế thân và thuế ruộng đất trước ngày ông tới Việt Nam nhậm chức mới 83.000 Đ, sau đó vọt lên 2 triệu Đ năm 1899 - năm thứ 2 nhiệm kỳ toàn quyền. Ở Bắc Kỳ, 2 sắc thuế ấy cũng tăng nhanh, đạt gần 5 triệu Đ năm 1907. Trong khi đó, mọi loại thuế má người Pháp làm việc tại Đông Dương phải đóng góp vào ngân sách vỏn vẹn có 9.000 Đ/năm! Ở Nam Bộ, công cuộc khai thác và tập trung hóa ruộng đất đẩy nhanh hết cỡ: Từ 522.000 ha ruộng lúa năm 1880 tăng vọt lên 1.175.000 ha 10 năm sau. Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long trở thành nguồn xuất khẩu lớn nhất châu Á. Trên thực tế, P. Doumer đã tạo dựng cơ sở để khi chiến tranh thế giới nổ ra, nước Việt Nam nghèo đói phải oằn mình cho “rồng Nam phun bạc, đánh đổ Đức tặc”, phục vụ chiến thắng của mẫu quốc” (Phan Quang: P.Doumer: Ba mặt một con người - báo Người lao động, 11.10.2009), “năm 1897, chỉ trong vài tuần lễ, một cơn mưa đá thực sự đổ xuống. Tăng thuế thân và thuế địa ốc, thuế của những người không đăng ký, thuế đăng ký sắc phong của các quan, thuế diêm, thuế quế, thuế giấy có đóng dấu, thuế muối, rượu, thuyền trên sông, giấy phép đốn gỗ, thuế thuốc lào, thuế cau, thuế củi, thậm chí cả thuế rơm thuế rạ để lợp những cái lều thảm hại nhất...” (trích từ cuốn Những sai lầm và nguy hiểm, NXB Charpentier, 1902, tác giả là đại úy Fernand Bernard). Và không có gì đáng tin hơn về tội ác của người Pháp dưới quyền P. Doumer đã thực hiện ở Việt Nam qua lời kể của viên đại úy kể trên viết trong bức thư gửi về Pháp ngày 1-1-1898: “vào hôm sau ngày xảy ra vụ manh động cho chặt và bêu 54 cái đầu. Trong vài ngày tiếp theo, người ta đã hành hình 200 người An Nam, trong số đó có cả những đứa nhóc 14 tuổi, với cái tội là đã làm rối giấc ngủ của những vị quan cai trị của chúng ta… Tất cả những điều này thật đáng nôn mửa” (Người Pháp và người Annam - Bạn hay thù? - P. Devillers, Ngô Văn Quỹ dịch, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006)…

Như vậy, liệu có thể coi nỗ lực mở đường, xây cầu, tăng cường giao thương mà P.Doumer đã tiến hành là vì sự phát triển của Việt Nam? Câu trả lời là không! Chính ông ta nói rõ trong hồi ức của mình về động cơ của những việc làm này: “Toàn quyền Đông Dương phải tìm cách tạo ra các nguồn tài chính cần thiết cho việc xây dựng mạng đường sắt bằng cách tăng thêm các khoản thu ở những xứ thành viên của Đông Dương có ngân sách thu ít nhất. Như thế mới gây được niềm tin cho giới tư bản ở Pháp. Chính họ mới là chỗ dựa của chúng ta, chúng ta phải kêu gọi họ tới đầu tư ở Đông Dương dưới dạng này hay một dạng khác”. (Nguyễn Văn Trường trích dịch từ cuốn L’Indochine Française (Souvenirs) NXB Vuibert & Nony, Paris, 1903). Từ góc nhìn đó sẽ thấy việc chính quyền thực dân ở Việt Nam dưới sự điều hành của P.Doumer xây dựng hệ thống giao thông nhằm phục vụ quá trình khai thác thuộc địa thuận lợi hơn; mở mang các khu đô thị hành chính để thiết lập bộ máy cai trị của chế độ thực dân,… Tương tự, việc P. Doumer khảo sát cao nguyên Langbiang lập ra TP Đà Lạt, lắp điện ở Hà Nội, xây nhà bưu điện, nha khí tượng, nhà thương đều để phục vụ người Pháp chứ không dành cho người bản xứ… Vì vậy thật là nực cười nếu gắn cho P.Doumer “công trạng xây dựng, mở mang, phát triển” Việt Nam, mà quên (cố tình quên?) ông thật sự là ai!
........

Hình như cụ ý xóa còm rồi.
Giờ "khai phóng" quá nên lại thêm nhiều người nghĩ Pháp, Mỹ nó xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ nhân dân VN :))
 
Thông tin thớt
Đang tải

Bài viết mới

Top