- Biển số
- OF-210290
- Ngày cấp bằng
- 16/9/13
- Số km
- 14,575
- Động cơ
- 594,351 Mã lực
Sợ hư thì uống một vế thôi cụ:Bia bọt hư người![]()
Bỏ cờ chơi Bạc
Bỏ chè uống Rượu
Bỏ Trai chơi Gái
Bỏ bia uống Bọt ( bia cắt tiết hoy)

Sợ hư thì uống một vế thôi cụ:Bia bọt hư người![]()

Quá chuẩn... 10 điểmSợ hư thì uống một vế thôi cụ:
Bỏ cờ chơi Bạc
Bỏ chè uống Rượu
Bỏ Trai chơi Gái
Bỏ bia uống Bọt ( bia cắt tiết hoy)![]()

Thôi, em gọi vì anh Thỏ sút em, giờ em rửa chân ngủ mai lượn phốCụ có cần em PM cho em Mưa! vào hầu chuyện cụ không nào? Nay làm gì mà có vẻ khó ngủ hả cụ hay lại thiếu người gãi lưng nhể.![]()
Anh Găng xỏ xiên chúng ta đấy các bác ơi...Ngoài HN chắc mưa to ngập lụt, các cụ ở nhà bí bách không ra ngoài được, chỉ được ngắm mà không chạy tới sờ được. Khổ thân các cụ.
![]()
Haizz, mấy ai được như GS phuongmit, GS nhỉ, càng có tuổi lại càng có vận khí, có điều vẫn lơ đễnh như hồi nhỏ lúc chụp ảnh ấy.
![]()

Ơ, chỗ iem … rút hết khô thoáng hem … dềnh nhaCụ cũng thế. Hơn được cái wifi nên mới có hình ây ai...![]()
Cụ phong độ quá!Ơ, chỗ iem … rút hết khô thoáng hem … dềnh nha
![]()
Em thì oánh giá cụ Me này có công lớn trong việc kiến thiết Đông Dương thuộc địa, đặt ra tầm nhìn quy hoạch phát triển kinh tế cho toàn xứ Đông Pháp và đặc biệt đã đặt Hà Nội vào vị thế đô thị thuộc địa hàng đầu của Đông Pháp.Nhầm lẫn về lịch sử dẫn tới ngộ nhận
01/02/2016 15:13
Đánh giá khách quan, trung thực, chính xác về các sự kiện, nhân vật lịch sử là yêu cầu hết sức cần thiết, vì điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với lịch sử, mà còn có ý nghĩa đối với hiện tại. Do đó, trước hiện tượng chỉ căn cứ vào đóng góp của một số cá nhân để vinh danh, đề cao “công trạng” mà bỏ qua lỗi lầm lịch sử của họ là điều cần được cảnh báo.
Vừa qua, việc xuất bản cuốn hồi ký Xứ Đông Dương của Paul Doumer (P.Đu-me, 1857 - 1932) - toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897 - 1902, đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Trên một số tờ báo, nội dung cuốn sách được giới thiệu chi tiết: “Đó là quá trình xây dựng những cây cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, cầu Thành Thái (Tràng Tiền) tại sông Hương hay cầu Bình Lợi trên sông Sài Gòn. Đó là sự quyết tâm của Doumer trong việc xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt. Đó là việc Hà Nội, dưới thời cai trị của Paul, trở thành thành phố châu Á đầu tiên có điện”… Cùng với đó là lời ca ngợi: “Công bằng mà nói, P.Doumer đã làm được rất nhiều việc cho xứ Đông Dương”, “chính ý chí, quyết tâm, lòng kiên trì và tầm nhìn xa của một chính khách không coi thuộc địa mình cai trị như một nơi để bóc lột, mà ngược lại là mảnh đất để thực hiện những tham vọng đã góp phần tạo nên những công trình ấy... Và hơn cả việc gìn giữ một cuốn sách đặc biệt, việc chuyển thể Xứ Đông Dương thuộc Pháp cũng là một cách tri ân những đóng góp của chính P.Doumer với Việt Nam, hay mong mỏi về việc tái hiện lại một Đông Dương rất đáng nhớ trong ký ức của không ít người”, “Những suy nghĩ và đánh giá của ông rất sâu sắc và rất khác với cách suy nghĩ của nhiều tác giả khác ở Đông Dương. Bởi vậy, cuốn hồi ký của ông tái hiện một góc nhìn rất mới về một giai đoạn lịch sử của Việt Nam nói riêng và các nước Đông Dương nói chung giai đoạn từ 1897 - 1902”… Các “thành tích” được liệt kê, ngợi ca như vậy rất dễ khiến người đọc lầm tưởng P.Doumer đã có công “khai sáng” cho Việt Nam trong giai đoạn làm toàn quyền tại Đông Dương.
Có một sự thật không ai có thể phủ nhận là P.Doumer đến Việt Nam với vai trò một viên quan thực dân và đương nhiên, ông phải tìm mọi cách để phục vụ lợi ích của nước Pháp. Trên thực tế, trong thời gian ở Việt Nam ông đã rất mẫn cán “bình định” bằng bất cứ giá nào, rồi xây dựng bộ máy cai trị thực dân thay thế chế độ cai trị của nhà Nguyễn, khai thác tài nguyên, bóc lột đến cùng kiệt sức lao động của người bản xứ. “Công tích” của P.Doumer trong mấy năm ở Đông Dương rất cụ thể: “Dưới triều đại P.Doumer, 3 sắc thuế được đẩy mạnh hết mức là thuốc phiện, muối và rượu. Của cải bòn rút từ người dân qua 3 sắc thuế ấy đóng vào ngân sách thuộc địa tăng từ 20 triệu đồng Đông Dương (Đ) năm 1899 lên 33 triệu Đ năm 1902, rồi vọt lên 42 triệu Đ năm 1911. Lợi nhuận của Ngân hàng Đông Dương cũng tăng theo chiều thuận với tăng thuế. Theo một nhà sử học Pháp, “công tích chính của Doumer tại Đông Dương” là tăng thuế. Ở Trung Kỳ, thuế thân và thuế ruộng đất trước ngày ông tới Việt Nam nhậm chức mới 83.000 Đ, sau đó vọt lên 2 triệu Đ năm 1899 - năm thứ 2 nhiệm kỳ toàn quyền. Ở Bắc Kỳ, 2 sắc thuế ấy cũng tăng nhanh, đạt gần 5 triệu Đ năm 1907. Trong khi đó, mọi loại thuế má người Pháp làm việc tại Đông Dương phải đóng góp vào ngân sách vỏn vẹn có 9.000 Đ/năm! Ở Nam Bộ, công cuộc khai thác và tập trung hóa ruộng đất đẩy nhanh hết cỡ: Từ 522.000 ha ruộng lúa năm 1880 tăng vọt lên 1.175.000 ha 10 năm sau. Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long trở thành nguồn xuất khẩu lớn nhất châu Á. Trên thực tế, P. Doumer đã tạo dựng cơ sở để khi chiến tranh thế giới nổ ra, nước Việt Nam nghèo đói phải oằn mình cho “rồng Nam phun bạc, đánh đổ Đức tặc”, phục vụ chiến thắng của mẫu quốc” (Phan Quang: P.Doumer: Ba mặt một con người - báo Người lao động, 11.10.2009), “năm 1897, chỉ trong vài tuần lễ, một cơn mưa đá thực sự đổ xuống. Tăng thuế thân và thuế địa ốc, thuế của những người không đăng ký, thuế đăng ký sắc phong của các quan, thuế diêm, thuế quế, thuế giấy có đóng dấu, thuế muối, rượu, thuyền trên sông, giấy phép đốn gỗ, thuế thuốc lào, thuế cau, thuế củi, thậm chí cả thuế rơm thuế rạ để lợp những cái lều thảm hại nhất...” (trích từ cuốn Những sai lầm và nguy hiểm, NXB Charpentier, 1902, tác giả là đại úy Fernand Bernard). Và không có gì đáng tin hơn về tội ác của người Pháp dưới quyền P. Doumer đã thực hiện ở Việt Nam qua lời kể của viên đại úy kể trên viết trong bức thư gửi về Pháp ngày 1-1-1898: “vào hôm sau ngày xảy ra vụ manh động cho chặt và bêu 54 cái đầu. Trong vài ngày tiếp theo, người ta đã hành hình 200 người An Nam, trong số đó có cả những đứa nhóc 14 tuổi, với cái tội là đã làm rối giấc ngủ của những vị quan cai trị của chúng ta… Tất cả những điều này thật đáng nôn mửa” (Người Pháp và người Annam - Bạn hay thù? - P. Devillers, Ngô Văn Quỹ dịch, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006)…
Như vậy, liệu có thể coi nỗ lực mở đường, xây cầu, tăng cường giao thương mà P.Doumer đã tiến hành là vì sự phát triển của Việt Nam? Câu trả lời là không! Chính ông ta nói rõ trong hồi ức của mình về động cơ của những việc làm này: “Toàn quyền Đông Dương phải tìm cách tạo ra các nguồn tài chính cần thiết cho việc xây dựng mạng đường sắt bằng cách tăng thêm các khoản thu ở những xứ thành viên của Đông Dương có ngân sách thu ít nhất. Như thế mới gây được niềm tin cho giới tư bản ở Pháp. Chính họ mới là chỗ dựa của chúng ta, chúng ta phải kêu gọi họ tới đầu tư ở Đông Dương dưới dạng này hay một dạng khác”. (Nguyễn Văn Trường trích dịch từ cuốn L’Indochine Française (Souvenirs) NXB Vuibert & Nony, Paris, 1903). Từ góc nhìn đó sẽ thấy việc chính quyền thực dân ở Việt Nam dưới sự điều hành của P.Doumer xây dựng hệ thống giao thông nhằm phục vụ quá trình khai thác thuộc địa thuận lợi hơn; mở mang các khu đô thị hành chính để thiết lập bộ máy cai trị của chế độ thực dân,… Tương tự, việc P. Doumer khảo sát cao nguyên Langbiang lập ra TP Đà Lạt, lắp điện ở Hà Nội, xây nhà bưu điện, nha khí tượng, nhà thương đều để phục vụ người Pháp chứ không dành cho người bản xứ… Vì vậy thật là nực cười nếu gắn cho P.Doumer “công trạng xây dựng, mở mang, phát triển” Việt Nam, mà quên (cố tình quên?) ông thật sự là ai!
........
![]()
Nhầm lẫn về lịch sử dẫn tới ngộ nhận
Đánh giá khách quan, trung thực, chính xác về các sự kiện, nhân vật lịch sử là yêu cầu hết sức cần thiết, vì điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với lịch sử, mà còn có ý nghĩa đối với hiện tại. Do đó, trước hiện tượng chỉ căn cứ vào đóng góp của một số cá nhân để vinh danh, đề cao “công trạng” mà...nhandan.vn
Hem phải iem, iem là cái thèng ngắm và shot pose cụ ơi.Cụ phong độ quá!
Hình như cụ ý xóa còm rồi.Nhầm lẫn về lịch sử dẫn tới ngộ nhận
01/02/2016 15:13
Đánh giá khách quan, trung thực, chính xác về các sự kiện, nhân vật lịch sử là yêu cầu hết sức cần thiết, vì điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với lịch sử, mà còn có ý nghĩa đối với hiện tại. Do đó, trước hiện tượng chỉ căn cứ vào đóng góp của một số cá nhân để vinh danh, đề cao “công trạng” mà bỏ qua lỗi lầm lịch sử của họ là điều cần được cảnh báo.
Vừa qua, việc xuất bản cuốn hồi ký Xứ Đông Dương của Paul Doumer (P.Đu-me, 1857 - 1932) - toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897 - 1902, đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Trên một số tờ báo, nội dung cuốn sách được giới thiệu chi tiết: “Đó là quá trình xây dựng những cây cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, cầu Thành Thái (Tràng Tiền) tại sông Hương hay cầu Bình Lợi trên sông Sài Gòn. Đó là sự quyết tâm của Doumer trong việc xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt. Đó là việc Hà Nội, dưới thời cai trị của Paul, trở thành thành phố châu Á đầu tiên có điện”… Cùng với đó là lời ca ngợi: “Công bằng mà nói, P.Doumer đã làm được rất nhiều việc cho xứ Đông Dương”, “chính ý chí, quyết tâm, lòng kiên trì và tầm nhìn xa của một chính khách không coi thuộc địa mình cai trị như một nơi để bóc lột, mà ngược lại là mảnh đất để thực hiện những tham vọng đã góp phần tạo nên những công trình ấy... Và hơn cả việc gìn giữ một cuốn sách đặc biệt, việc chuyển thể Xứ Đông Dương thuộc Pháp cũng là một cách tri ân những đóng góp của chính P.Doumer với Việt Nam, hay mong mỏi về việc tái hiện lại một Đông Dương rất đáng nhớ trong ký ức của không ít người”, “Những suy nghĩ và đánh giá của ông rất sâu sắc và rất khác với cách suy nghĩ của nhiều tác giả khác ở Đông Dương. Bởi vậy, cuốn hồi ký của ông tái hiện một góc nhìn rất mới về một giai đoạn lịch sử của Việt Nam nói riêng và các nước Đông Dương nói chung giai đoạn từ 1897 - 1902”… Các “thành tích” được liệt kê, ngợi ca như vậy rất dễ khiến người đọc lầm tưởng P.Doumer đã có công “khai sáng” cho Việt Nam trong giai đoạn làm toàn quyền tại Đông Dương.
Có một sự thật không ai có thể phủ nhận là P.Doumer đến Việt Nam với vai trò một viên quan thực dân và đương nhiên, ông phải tìm mọi cách để phục vụ lợi ích của nước Pháp. Trên thực tế, trong thời gian ở Việt Nam ông đã rất mẫn cán “bình định” bằng bất cứ giá nào, rồi xây dựng bộ máy cai trị thực dân thay thế chế độ cai trị của nhà Nguyễn, khai thác tài nguyên, bóc lột đến cùng kiệt sức lao động của người bản xứ. “Công tích” của P.Doumer trong mấy năm ở Đông Dương rất cụ thể: “Dưới triều đại P.Doumer, 3 sắc thuế được đẩy mạnh hết mức là thuốc phiện, muối và rượu. Của cải bòn rút từ người dân qua 3 sắc thuế ấy đóng vào ngân sách thuộc địa tăng từ 20 triệu đồng Đông Dương (Đ) năm 1899 lên 33 triệu Đ năm 1902, rồi vọt lên 42 triệu Đ năm 1911. Lợi nhuận của Ngân hàng Đông Dương cũng tăng theo chiều thuận với tăng thuế. Theo một nhà sử học Pháp, “công tích chính của Doumer tại Đông Dương” là tăng thuế. Ở Trung Kỳ, thuế thân và thuế ruộng đất trước ngày ông tới Việt Nam nhậm chức mới 83.000 Đ, sau đó vọt lên 2 triệu Đ năm 1899 - năm thứ 2 nhiệm kỳ toàn quyền. Ở Bắc Kỳ, 2 sắc thuế ấy cũng tăng nhanh, đạt gần 5 triệu Đ năm 1907. Trong khi đó, mọi loại thuế má người Pháp làm việc tại Đông Dương phải đóng góp vào ngân sách vỏn vẹn có 9.000 Đ/năm! Ở Nam Bộ, công cuộc khai thác và tập trung hóa ruộng đất đẩy nhanh hết cỡ: Từ 522.000 ha ruộng lúa năm 1880 tăng vọt lên 1.175.000 ha 10 năm sau. Lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long trở thành nguồn xuất khẩu lớn nhất châu Á. Trên thực tế, P. Doumer đã tạo dựng cơ sở để khi chiến tranh thế giới nổ ra, nước Việt Nam nghèo đói phải oằn mình cho “rồng Nam phun bạc, đánh đổ Đức tặc”, phục vụ chiến thắng của mẫu quốc” (Phan Quang: P.Doumer: Ba mặt một con người - báo Người lao động, 11.10.2009), “năm 1897, chỉ trong vài tuần lễ, một cơn mưa đá thực sự đổ xuống. Tăng thuế thân và thuế địa ốc, thuế của những người không đăng ký, thuế đăng ký sắc phong của các quan, thuế diêm, thuế quế, thuế giấy có đóng dấu, thuế muối, rượu, thuyền trên sông, giấy phép đốn gỗ, thuế thuốc lào, thuế cau, thuế củi, thậm chí cả thuế rơm thuế rạ để lợp những cái lều thảm hại nhất...” (trích từ cuốn Những sai lầm và nguy hiểm, NXB Charpentier, 1902, tác giả là đại úy Fernand Bernard). Và không có gì đáng tin hơn về tội ác của người Pháp dưới quyền P. Doumer đã thực hiện ở Việt Nam qua lời kể của viên đại úy kể trên viết trong bức thư gửi về Pháp ngày 1-1-1898: “vào hôm sau ngày xảy ra vụ manh động cho chặt và bêu 54 cái đầu. Trong vài ngày tiếp theo, người ta đã hành hình 200 người An Nam, trong số đó có cả những đứa nhóc 14 tuổi, với cái tội là đã làm rối giấc ngủ của những vị quan cai trị của chúng ta… Tất cả những điều này thật đáng nôn mửa” (Người Pháp và người Annam - Bạn hay thù? - P. Devillers, Ngô Văn Quỹ dịch, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006)…
Như vậy, liệu có thể coi nỗ lực mở đường, xây cầu, tăng cường giao thương mà P.Doumer đã tiến hành là vì sự phát triển của Việt Nam? Câu trả lời là không! Chính ông ta nói rõ trong hồi ức của mình về động cơ của những việc làm này: “Toàn quyền Đông Dương phải tìm cách tạo ra các nguồn tài chính cần thiết cho việc xây dựng mạng đường sắt bằng cách tăng thêm các khoản thu ở những xứ thành viên của Đông Dương có ngân sách thu ít nhất. Như thế mới gây được niềm tin cho giới tư bản ở Pháp. Chính họ mới là chỗ dựa của chúng ta, chúng ta phải kêu gọi họ tới đầu tư ở Đông Dương dưới dạng này hay một dạng khác”. (Nguyễn Văn Trường trích dịch từ cuốn L’Indochine Française (Souvenirs) NXB Vuibert & Nony, Paris, 1903). Từ góc nhìn đó sẽ thấy việc chính quyền thực dân ở Việt Nam dưới sự điều hành của P.Doumer xây dựng hệ thống giao thông nhằm phục vụ quá trình khai thác thuộc địa thuận lợi hơn; mở mang các khu đô thị hành chính để thiết lập bộ máy cai trị của chế độ thực dân,… Tương tự, việc P. Doumer khảo sát cao nguyên Langbiang lập ra TP Đà Lạt, lắp điện ở Hà Nội, xây nhà bưu điện, nha khí tượng, nhà thương đều để phục vụ người Pháp chứ không dành cho người bản xứ… Vì vậy thật là nực cười nếu gắn cho P.Doumer “công trạng xây dựng, mở mang, phát triển” Việt Nam, mà quên (cố tình quên?) ông thật sự là ai!
........
![]()
Nhầm lẫn về lịch sử dẫn tới ngộ nhận
Đánh giá khách quan, trung thực, chính xác về các sự kiện, nhân vật lịch sử là yêu cầu hết sức cần thiết, vì điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với lịch sử, mà còn có ý nghĩa đối với hiện tại. Do đó, trước hiện tượng chỉ căn cứ vào đóng góp của một số cá nhân để vinh danh, đề cao “công trạng” mà...nhandan.vn

Tí em cũng chen lấn xô đẩy ở đây một tí, không rõ có rụng cái xương nào không.hơi xô bồ anh ạ, sáng vắng, chiều tối thì…thôi rồi chả còn tý văn hoá nào toàn văn hoa với mỹ nữTí em cũng chen lấn xô đẩy ở đây một tí, không rõ có rụng cái xương nào không.
Bố con em góp 1 lySomewhere giữa Ba Đình Hà Nội
Chà tam diệu tứ các Cụ êy
![]()
Em chào anh Honghen2008 , cuối tuần chắc cụ anh có lượn đâu ko?Anh Ao, để thớt này bình yên e sẽ trả lời Anh nhé.
Em vác máy đi chụp ỉnh mà, mĩ lữ quan trọng lắm.hơi xô bồ anh ạ, sáng vắng, chiều tối thì…thôi rồi chả còn tý văn hoá nào toàn văn hoa với mỹ nữ![]()
kkkkkk, sáng em đi bộ toàn nghe mỹ nữ chửi bậy với văng tục….ngấy quá chui tọt vào Hoacaffein hàng Vải..Em vác máy đi chụp ỉnh mà, mĩ lữ quan trọng lắm.