• [Thông báo] Diễn đàn tạm thời chuyển tên miền từ OTOFUN.NET sang tên miền OTOFUN.NET.VN.

[Funland] Giới thiệu bản dịch sách Lịch sử: An Nam sứ sự kỷ yếu-1669.

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ngày 25, Đồng Tồn Trạch v.v. lại dâng trình nói:
- Cũng biết là vì việc Mạc Nguyên Thanh, nghe nói là có ý tốt cho nước chúng tôi, nhưng sợ thông dịch truyền đạt sai sự thật, xin viết giấy cho biết quả đúng như vậy không. Sứ bộ liền phê vào cuối tờ trình:
“Lời truyền đạt đều do ta dặn trực tiếp thông dịch, vốn không sai sự thật, có phúc không có họa, hãy mau mở đọc.”
Ngày 26, quan lại người Việt mới vào trình xin dọn đường, tập dượt nghi lễ, chọn ngày lành.
Ngày 27, dâng trình xin ngày 29 nghênh tiếp chiếu chỉ mở đọc. Sứ bộ liền dụ bảo việc nghênh tiếp, mở đọc, giao bái đều phải chiếu theo Hội điển mà làm. Nhân đó sao lục truyền thị cho nước ấy.
Ngày 28, tiến trình xin theo lễ cũ là năm lạy. Sứ bộ dụ bảo:
- Ba quỳ chín dập đầu mới là nghi chế của bản triều. Nước các ngươi đã là bề tôi của Đại Thanh, sao dám vượt quá? [三跪九叩頭 Tam quỳ cửu khấu: nghi thức bái lạy tối cao thời Thanh, áp dụng cho thần tử bái kiến hoàng đế hoặc tiếp nhận chiếu chỉ thiên triều. Thay thế lễ "ngũ bái" (5 lạy) cũ của Đại Việt].
Chốc lát trình báo lại:
- Đều làm theo lời dụ.
Ngày 29 sáng sớm, cất bỏ gươm đao và mọi vật chấp sự võ bị, bưng sắc chỉ qua sông Phú Lương [富良江: Sông Phú Lương, tức sông Hồng đoạn chảy qua Thăng Long]. Trời quang mây tạnh, vào Giao Châu [交州Chỉ kinh thành Thăng Long thời Lê]. Châu không có thành lũy, chợ quán đóng cửa, đường sá khô ráo sạch sẽ, người đứng xem xa xa ở các phố phường đông như núi. Duy Hy đứng chờ ở cửa Nam phủ đệ của mình, truyền lệnh ra đón, (sứ bộ) dừng xe đứng đợi ngoài cửa thành. Lâu sau, sai phiên thần thay mình ra đón nói:
- Trong cửa thành là khu dân cư, cách cửa phủ còn xa.
Phó sứ giữ vững lời lẽ không hề nhân nhượng. Chánh sứ nói:
- Đã là khu dân cư, nếu vua họ bước ra, chúng ta cũng phải bước vào, không đúng thể thống.
Thế là mới đi vào, đến ngoài cửa đông của phủ, qua lại thúc giục, (vua) kiên quyết không ra. Tiếp theo sai quan dâng trà, có người răn chớ uống, hai người cười mà uống, gọi triều thần Hồ Sĩ Dương v.v. dụ bảo rằng:
- Nước các ngươi chịu thiên triều phong tước, tự nhiên là bề tôi của quốc gia, lẽ nào chiếu thư đến, không ra đón là cớ gì? Khí tiết hai sứ thần liên quan, há chịu nhục mệnh? Đầu có thể đứt, chân không thể dời, đêm nay liền phải ngủ lại đây [首可斷,足不可移 Thành ngữ khí tiết: "Đầu có thể đứt, chân không thể dời". Thể hiện lập trường cứng rắn, không lùi bước của sứ thần trước áp lực trì hoãn nghi lễ], ngày mai lại bàn. Không thì sẽ bưng sắc chỉ về công quán, đợi bàn định xong, lại làm lễ nghênh tiếp. Vả lại vua các ngươi một bước đi, đối với họ là thuận theo trời lý, đối với hai sứ thần là giữ tiết giữ nghĩa, hai điều tốt đều được, sao ngại không làm? Các ngươi cũng là người có tiếng ở Giao Nam, có thể cầm Hội điển đi tâu vua các ngươi, chớ tự chuốc tội bất tuân.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
1780929518084.png
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
[Hồ Sĩ Dương胡士揚 (1621 - 1681) là quan nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam, người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, Việt Nam. Ông là cháu xa của Hồ Tông Thốc.Hồ Sĩ Dương là con giám sinh Hồ Hoàng, mẹ là Hoàng Thị Tâm.
Năm 1643, ông 23 tuổi, thi đậu giải nguyên. Tới khoa Mậu Tý (1648) do thi hộ trường Thanh, đỗ giải nguyên bị phát giác, ông bị cách chức thủ khoa đẩy đi lính. Năm 1651 ông được ân xá, thi đậu giải nguyên. Việc một người ba lần thi đậu giải nguyên là một chuyện hiếm có. Năm 1652, ông đậu tiến sĩ. Năm 1659, triều đình mở khoa Đông các lấy 5 người, 2 người là đông các, 3 người là hiệu thư. Dự thi là những người đã đậu các kỳ thi đình. Ông chỉ đậu thứ 2 tiến sĩ, không được nằm trong danh sách dự thi. Ông khiếu nại trường hợp của ông: ba lần đậu thủ khoa và kỳ thi tiến sĩ đáng lý bài ông vào hạng nhất. Vua Lê Thần Tông đồng ý cho ông dự thi. Ông cùng ông Hoàng giáp Nguyễn Văn Giai, người Phù Lưu Trường (nay là xã Hậu Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) đậu đông các.
Ông dẫn quân đi kinh lược Tuyên Quang, bình định được thủ lĩnh Mã Thúc Lan, được bổ chức lại khoa đô cấp sư trung thăng đông các đại học sĩ, từng đi giao thiệp tranh cãi biên giới 5 lần đều thắng lợi. Sau đó ông được thăng binh bộ tả thị lạng Thượng tướng quân.
Năm 1673, ông được cử làm chính sứ đi Trung Quốc. Năm 1676, ông làm Tham tụng, kiêm Thượng thư bộ Công, cùng năm, ông được sai giám tu quốc sử thượng thư bộ hình kiếm đông các đại học sĩ. Sau đó, ông được thăng Thượng thự bộ Lễ. Ông được người trong nước và ngoài nước đánh giá cao.
Chu Xán, sứ nhà Thanh sang Đại Việt vào năm Chinh Hòa thứ 4 (1683) có thơ về Việt Nam, có câu: "Y quan văn vật trọng nam cương" lại tự chua rằng: "Nhân vật nước này về lý học có Trinh Tuyền, Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cao và Hồ Sĩ Dương, về kinh tế có Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi, Lương Thế Vinh.
Năm 1681, ông mất, thọ 61 tuổi, được phong Thiếu bảo Duệ quận công].
Cố tranh biện, đến giờ Mùi [13 đến 15 giờ], các quan Việt mới khuất phục. Duy Hy bước đến cửa đông, thông dịch trình:
- Người đi theo còn mang một hai con dao nhỏ, xin cất đi.
Chấp nhận, liền giao thông dịch cất. Lại trình:
- Người đi theo hơi xa, lui đừng đến gần vua.
Vua sợ không dám ra, lại chấp nhận, vua mới ra ngoài cửa đón sắc chỉ vào, vua xin làm người dẫn đường, nói:
- Được.
Lệnh đi bên trái Long đình, đến giữa điện, Duy Hy lạy dập đầu không được rõ ràng [Vua Lê thực ra không muốn thực hiện nghi lễ Tam quỳ Cửu khấu]. Phó sứ đến dạy, Duy Hy kinh sợ muốn tránh, tả hữu cầm dao vây đến. Chánh sứ cười nói:
- Sao nhút nhát đến thế? Cứ dập đầu liên tiếp là được.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
1780929574286.png

Vua Lê Huyền Tông cố ý lạy sai​
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Từ từ bưng sắc chỉ quỳ dâng lên vua. Vua quỳ đợi tuyên đọc, các thần trở xuống đều quỳ. Trước kia lệ tuyên đọc thường dùng người bản quốc, lần này thì trình xin dùng người Hán. Người An Nam nhiều gian trá, rốt cuộc nghi trong sắc chỉ có chữ tổn hại nước họ, nên không muốn dùng thổ âm tuyên đọc. Thế là sai lại mục Triệu Quang Húc [吏目 趙光勖: Triệu Quang Húc, chức Lại mục (chánh cửu phẩm) châu Long Anh, được sứ bộ mang theo làm người tuyên đọc sắc chỉ bằng tiếng Hán để đảm bảo tính chính xác và trang nghiêm] tuyên đọc xong, vẫn lạy dập đầu đúng nghi lễ. Xong rồi tân chủ đứng đông tây. Quan Việt xin chắp tay chào biệt, dụ bảo:
- Viện Bộ ta phụng mệnh thiên tử đến nước ngoài, mà vua các ngươi là người nước ngoài được gặp, Viện Bộ ta đều không phải ngẫu nhiên, sao được lạnh nhạt như người qua đường? Cần phải dẫn theo Hội điển làm lễ đối diện hai lạy.
Vua đã nghe theo, làm lại vẫn sai, dạy bảo trăm bề, rốt cuộc bắt làm thành lễ, dâng trà uống. Thế là gọi vua đến gần nói:
- Hoàng thượng đặc ân phái hai thần đến, không ngoài vì tính kế cho xã tắc sinh linh của vua. Ngẫm kỹ sắc thư, tự thấy một thời khó gặp mặt nói hết. Chúng ta hãy lui về công quán, vua cùng các thần bàn bạc thỏa đáng, để báo mệnh vậy.
Bồi thần trình:
- Hôm nay mệt nhọc, hãy xin nghỉ ngơi, rồi sẽ hồi báo, quyết không có lý nào không tuân theo chỉ triều. Thế là mới ra. Vua theo cửa Tây góc tiễn đến ngoài cửa thứ hai [nói lời từ] biệt, nói mặt trời đã lặn. Đợi đến công quán, trống canh hai rồi [漏下二鼓: Trống canh hai, tức khoảng 21h–23h. Cho thấy buổi lễ kéo dài từ sáng đến tối do thương lượng nghi thức phức tạp]. Chánh phó sứ đối nhau vái chào, các bên đều xưng tạ, cùng nhau hoàn thành sứ mệnh. [對頭兩拜禮 Lễ hai lạy đối diện nhau: nghi thức giao bái tiêu chuẩn trong 《Đại Thanh Hội Điển》 giữa sứ thần thiên triều và quốc vương phiên thuộc].
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
AN NAM SỬ SỰ KỶ YẾU QUYỂN 2 安南使事紀要卷之二
Ngày mồng 1 tháng 2, gọi thông dịch Nguyễn Nghệ Hiền [阮勩賢Nguyễn Nghệ Hiền, thông dịch viên (thông sự) người Việt phục vụ đoàn sứ] đến, bảo rằng:
- Hai ngươi vừa đi cống về, quy mô Trung Quốc, ân trạch triều đình, cùng ý định chúng ta đến đây, các ngươi tự nhiên đã biết rõ. Giọng các ngươi khá chuẩn, từ nay hãy dốc lòng đem lời chúng ta nói, truyền đạt cho sáng suốt rõ ràng, và đem hảo ý của triều đình, luôn luôn khai đạo cho nước các ngươi. Lại dặn quan các ngươi: Trước kia có bắt giữ người Cao Bằng [ý nói người của nhà Mạc], tuyệt đối không thể vì trong sắc chỉ có lời trả lại, mà từ nay lén gia hại họ. Về sau nếu tra ra được, tội còn lớn hơn trước, ngươi nên khẩn khoản tâu lên. Đây cũng là nền tảng công danh của ngươi, vả lại tạo phúc cho con cháu đó. Hai người dập đầu dạ dạ.
Ngày mồng 2, quan Việt đến trình:
- Hôm trước sau khi tuyên đọc, Quốc vương cực kỳ mệt nhọc, hôm qua ngủ mệt chưa dậy, nay mới hạ lệnh, các bô lão đại thần trước tiên trai giới ba ngày, rồi mới hội nghị, xin gia hạn thời gian. Sứ bộ cùng dụ bảo:
- Đây là đặc ân của triều đình, là kế lớn liên quan đến sự an nguy nước các ngươi, đáng phải cẩn thận bàn bạc, nhất định phải ổn thỏa xác đáng, không được làm sơ suất qua loa, ta không ép các ngươi đâu.
Ngày mồng 3, cùng bàn bạc rằng:
- Trước kia vì nước họ không chịu mở đọc ngay, sợ tổn thương quốc thể, nên muốn dùng việc tế điện mẹ [chúa] Trịnh, để khiến họ vui lòng, không cản trở đại kế, tuy không phải lệ cũ, cũng là tùy cơ ứng biến thôi. Họ đã sai thông dịch về trình rằng:
“Nghe thịnh ý của hai vị đại nhân, lấy gì mà dám đương? Chỉ một lời này, đã cảm kích không xiết. Như vậy, chính nên tỏ rõ chữ tín cho họ. Lại nghe nói họ đang chịu tang, khá theo lễ nằm rơm đất (thổ nghi), thế là làm văn rõ ràng khen ngợi sự hiếu thảo bi ai của họ, mà rốt cuộc khuyên răn tiết làm tôi vậy.” [苫塊杖起 Lễ chế tang cổ: nằm trên chiếu rơm (苫), gối đầu lên đất (塊), chống gậy (杖). Chỉ việc chúa Trịnh tuân thủ nghiêm lễ hiếu].
Ngày mồng 8, sai quan tiền trạm cùng lại mục đem văn tế đến tế, văn rằng:
- Từ ngày hai ta vào đất Giao, quan nghênh tiếp liền báo tin mẹ Phụ quốc họ Trịnh mất, hỏi tuổi thọ được mấy trăm tuổi. Cứ theo hành trạng của bà, thì kính cẩn giữ gìn việc nội trợ, giúp chồng khuyên con, đời đời trung cần, mở mang phủ chúa, chuyển nguy thành an, chuyển yếu thành mạnh, lại khiến phụng cống thiên triều, kính cẩn thành thuận, trên dưới yên vinh, lệnh ban ra ngoài cõi, đến nay hưởng tuổi thọ cao, chết yên lành, không bệnh mà mất [考終命 Một trong "Ngũ phúc" (Kinh Thư): chết già, chết yên lành theo tự nhiên, không bệnh tật hay tai họa]. Ôi, sao mà cao đẹp thay! Con bà đã già, nằm rơm chống gậy, cử động đều theo lễ độ, lòng thương nhớ bi ai, sáng rõ khắp xa gần. Thế là hai sứ thần nghe mà than rằng: Đẹp thay! Thánh thiên tử nhà Đại Thanh ta ra đời, mà đến góc tận nhật nguyệt, xứ sở rồng nến chuột lửa, đều được hưởng tuổi thọ nhân hòa. Đây là một điềm lành vậy! [日域月窟 / 燭龍火鼠: Điển tích chỉ vùng biên viễn xa xôi. 日域 (nơi mặt trời mọc), 月窟 (nơi mặt trăng lặn). 燭龍 (thần rồng soi sáng Bắc Cực/hàn địa), 火鼠 (chuột lửa sống ở Nam Cực/hỏa địa). Sứ thần dùng để ví Đại Việt là vùng đất xa nhưng nay đã được "ân trạch" phủ tới]. Sự tốt lành của quốc gia, thường gởi gốc ở gia tộc, mà phúc thọ của nhân thế, khó hội đủ cả nơi một người. Vả chăng có đức mà không có ứng nhiều lắm, chưa hẳn không phải do thời thế. Nay lấy đức thơm họ Ngu, chung đúc linh khí tạo hóa, uất kết thành bậc phúc thọ, đẹp đẽ làm gương trinh chính đất mẹ [嬀: họ Ngu, thường dùng để chỉ phụ nữ hiền đức (như Ngu phi). 坤貞: đức trinh chính của đất (tượng trưng cho đạo làm mẹ)]. Được khen ngợi ban ơn càng thêm, tiếng thơm rạng rỡ không dứt. Thân gặp nhật nguyệt thanh bình, chí an cửa nhà trung hiếu. Vừa khi mây trắng xa đưa, lại gặp sứ tinh [星使: Sứ thần (ví như sao trên trời giáng xuống)] đến viếng, sẽ truyền thanh xưng nơi thượng quốc, càng thêm mỹ thoại ngoài biên viễn. Sao mà cảnh ngộ vượt bậc thường tình đến thế? Vốn biết dung nhan tuy đã xa, di huấn còn truyền, đang phù hộ cho người sau, quyết thế đời dày lòng trung tận. Từ nay về sau, giữ trọn như lúc đầu, thuận trời kính mệnh, tôn chủ giúp dân, chấn hưng cương kỷ một nước, làm gương mẫu cho các quan, thì con cháu lưu thơm năm tháng, đều là ngày suối vàng an lòng vui cười vậy. [泉臺叁笑 Tuyền đài hàm tiếu: suối vàng (cõi âm). 叁笑: có thể là “hàm tiếu” 含笑 hoặc “tam tiếu” 三笑 (lỗi khắc in). Dịch là "suối vàng an lòng vui cười", chỉ người đã khuất thỏa nguyện thấy con cháu giữ trọn tiết nghĩa].
Chú thích:
Sau nghi lễ khai đọc sắc chỉ căng thẳng (Quyển 1), sứ bộ nhà Thanh nhận thấy triều đình Lê-Trịnh đang dùng "quốc tang" làm lý do trì hoãn bàn bạc việc Cao Bằng.Thay vì gây áp lực, Lý Tiên Căn chuyển sang chiến thuật "ân uy kiêm bị": chủ động soạn văn tế mẹ chúa Trịnh, ca ngợi công đức "chuyển nguy thành an, phụng cống thiên triều". Đây là nước cờ cao tay: vừa công nhận địa vị thực tế của chúa Trịnh, vừa gắn lòng trung của họ Trịnh với việc "tuân mệnh thiên triều", tạo áp lực đạo đức ngầm buộc phía Việt phải thực thi sắc chỉ.
Ngày mồng 1, sứ thần dặn kỹ thông dịch: "tuyệt đối không thể vì sắc chỉ có lời trả lại Cao Bằng, mà ngầm gia hại người họ Mạc". Điều này tiết lộ mối lo thực tế của nhà Thanh: sợ nhà Lê-Trịnh sau khi nhận sắc chỉ sẽ trả thù hoặc ám sát tàn dư họ Mạc, vi phạm điều khoản "giảng hòa an sinh" trong chiếu. Việc đe dọa "về sau tra ra, tội còn lớn hơn" cho thấy nhà Thanh giám sát chặt việc thực thi ở biên viễn.
Phía Việt xin "các bô lão đại thần trai giới 3 ngày rồi mới họp" không chỉ là lý do sức khỏe vua, mà là thủ tục nội bộ đặc trưng của triều Lê-Trịnh: mọi quyết định hệ trọng (đặc biệt liên quan đến biên cương/thiên triều) đều phải qua Hội đồng Bô lão & Tam ty bàn bạc kỹ để tránh sai lầm "tổn thương quốc thể".
Sứ Thanh chấp nhận "ta không ép các ngươi", thể hiện sự tôn trọng thể chế nội bộ phiên quốc, đúng với chính sách hoài nhu thời Khang Hy.
Bài văn tế không chỉ là nghi thức tang lễ, mà là văn bản chính trị ngụy trang:
Ca ngợi mẹ Trịnh "khiến phụng cống thiên triều, kính cẩn thành thuận" → ngầm khẳng định tính chính danh của quan hệ tông phiên. Nhắc "chuyển nguy thành an, chuyển yếu thành mạnh" → ám chỉ công lao dẹp Mạc của họ Trịnh, nhưng đồng thời nhắc nhở rằng sự ổn định đó cần được duy trì bằng "thuận thiên kính mệnh". Kết thúc bằng "con cháu lưu thơm... suối vàng vui cười" → dùng đạo hiếu Nho gia để ràng buộc trách nhiệm chính trị của chúa Trịnh đời sau.
-
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ngày mồng 10, chúa Trịnh (Trịnh Tạc) gửi thiệp tạ ơn kèm hàm quan, bên trong ghi lễ vật địa phương: 300 lạng bạc, 20 tấm lụa An Nam, 20 tấm vải. Sứ bộ cùng bàn: “từ chối hết thì mất tình, nhận nhiều quá thì mất thể thống”. Mỗi người chỉ nhận 1 tấm lụa và 1 tấm vải, lại yêu cầu gửi thư tạ hiếu. Quan Việt lại nhiều lần khẩn khoản trình:
- Nếu không nhận đủ, chúng tôi không dám về.
Sứ bộ lại ban công văn dụ bảo:
“Trung Quốc vốn không có lý do nhận lễ vật của nhà tang. Sở dĩ nhận lụa vải hai tấm là vì dùng làm vải tang thôi. Các vật khác đương nhiên phải trả lại. Ngươi hãy đem tình tiết này về trình lại, không phải Viện Bộ ta không thông tình đạt lý đâu”.
Liên tục nhiều ngày giục phúc đáp, đều trả lời:
- Việc liên quan trọng đại, toàn quốc hội nghị, tất phải cẩn trọng tường tận. Xin gia hạn thời gian.
Ngày 13, giờ Thân, vua Lê gửi thư:
“Kính vâng hai vị đại nhân phụng chiếu chỉ đến nước, đã chuẩn bị Long đình, nghênh tiếp tại đài Kính Thiên, đốt hương hành lễ. Sau khi bưng đọc xong, sâu xa suy nghĩ cách phục mệnh. Nay vì xa giá sắp trở về, kính cẩn trình bày tuần tự sự thật trong nước trước nay, đều có trong bản tấu. Mong hai vị đại nhân thể tất tình này, thông đạt trình lên, may ra nước chúng tôi được thỏa lòng ngóng trông, mà công đức đại nghĩa của các ngài sẽ mãi được Nam quốc ca tụng truyền đời.
Chờ xem bản tấu, văn chương dài dòng né tránh, tuyệt không có ý trả lại dù một tấc đất một người. Sứ bộ liền đối diện giảng giải một phen cho quan đi sứ. Quan này cúi xin ân huệ, cầu xin nhận lấy bản tấu. Sứ bộ dụ bảo:
- Nước các ngươi ngu ngạo ngạo mạn đến thế, há phải một lời nói hết được. Hãy mang về, đợi ta viết thư hiểu dụ vua các ngươi. Thế là cùng bàn: hai người mỗi người viết một thiên, mỗi người trình bày sở kiến, để không thiếu sót, khiến họ không thể đẩy trách nhiệm nữa.
Ngày 15, giờ Mão, phát thư.
Khâm mệnh An Nam Chánh sứ, Nội viện Chánh nhất phẩm Lý, kính thư tới An Nam Quốc vương Lê Điện hạ: [Trong ngôn ngữ phong kiến, chữ Bệ hạ 陛下 là danh xưng độc quyền dành riêng cho Hoàng đế (Thiên tử - con trời). Vì các triều đại phương Bắc chỉ công nhận vua Việt Nam ở tước "Vương" (Phiên vương/Quốc vương) chứ không công nhận tước "Đế", nên các sứ thần phương Bắc khi viết thư hay đối thoại sẽ dùng chữ Điện hạ 殿下 để thể hiện sự tôn trọng đối với người đứng đầu một nước, nhưng vẫn giữ đúng tôn ty là bề dưới của Hoàng đế phương Bắc].
“Từ sau ngày 29 mở đọc chiếu chỉ, đã mặt dặn vua tôi các ngươi bàn bạc thỏa đáng, để báo đáp chí ý vỗ về của Thánh thiên tử. Lúc ấy đình thần bạch rằng đương nhiên phải tuân chỉ, nên Viện Bộ ta lui về công quán, tĩnh lặng lắng nghe hơn mươi ngày. Thực vì việc can hệ đến quý quốc, là kế lớn an nguy, không thể vội vã, nên không giục ép. Nay đã ngày 14 rồi. Ý quý quốc ắt có người mưu sâu kế xa, vì kế dài lâu trị nước, trên thuận mệnh triều, dưới yên sinh linh, gỡ hiềm khích đã qua, hưởng thái bình vô cùng. Không ngờ vừa nhận thư, mở xem bản tấu, đọc đi đọc lại, đều thuộc loại nông cạn sai lầm. Lúc ấy liền gọi thông dịch, sơ lược trình bày lý thể, cùng đầu mối lợi hại họa phúc, nhưng thông dịch không thể truyền đạt tường tận, quan đi sứ lại càng không phục, khiến đức sinh toàn của Hoàng thượng không được tỏ rõ nơi Nam phục, mà người chấp sự lại quen thói thấy nông cạn, làm lỡ việc lớn của cả nước, thật đáng tiếc thay!
Tóm lại, đức sinh toàn của Hoàng thượng, trong chiếu chỉ đã tự đầy đủ, người chấp sự không cẩn thận suy nghĩ kính tuân, há chẳng phải là "Lời vua to lớn, khó dễ giải bày" sao? Thì không thể không minh bạch trình bày thuyết này, kiêm chỉ rõ cơ ngộ quốc của đình thần, để chờ bậc hiền tài tự ngộ vậy. Từ khi An Nam ngang nhiên gây khó, Nguyên Thanh chạy trốn vào biên trấn, phiên thần đã có lòng địch khái, đình nghị muốn nêu rõ nghĩa "không tự tiện dấy binh". Hoàng thượng niệm Thượng đế hiếu sinh, Giao dân [dân Việt, ý nhà Thanh nói dân Việt cũng là dân được ơn mưa móc vua Thanh] cũng là dân ta, không vì cớ Nguyên Thanh mà quên sự cung thuận mấy năm của quý quốc, thế là gạt bỏ chúng nghị, đặc phát thâm ân, không truy cứu việc tự ý làm đã qua, chỉ lệnh phát hoàn địa phương nhân dân, các yên cảnh thổ. Đây chính là ơn che chở của trời đất, phúc vô cương của An Nam.
Đây chính là ân đức bao dung, chở che của trời đất, là phúc lành vô bờ của An Nam. Bậc Hoàng thượng há chẳng biết ý đồ dùng binh của quý quốc và kẻ cầm quyền [Chấp sự 執事: Người cầm quyền, người thi hành công vụ. Trong ngữ cảnh ngoại giao này, Lý Tiên Căn đang ám chỉ Chúa Trịnh Tạc (người nắm thực quyền "chủ chính" ở Đàng Ngoài)], thực sự là để trả mối thù chín đời sao? [Phục cửu thế chi cừu 復九世之仇: Trả thù đến chín đời. Điển cố từ Xuân Thu Công Dương truyện (Trang Công năm thứ 4), nói về việc Tề Tương Công trả thù cho tổ tiên bị nước Kỷ giết cách đó 9 đời. Nhà Lê-Trịnh thường viện dẫn điển cố này để chính danh hóa việc tiêu diệt nhà Mạc (vì nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê năm 1527)]. Sở dĩ [Hoàng thượng] không truy cứu sâu xa mà chỉ sai sứ thần đến tuyên dụ, chính là vì hết sức yêu thương An Nam, không muốn vì một vùng biên viễn hẻo lánh là Cao Bằng mà làm hại đến cục diện toàn bộ của An Nam.
Thế mà quan chấp sự không biết suy xét thời thế, thuận theo ý trời và kính cẩn tuân mệnh, lại chỉ nói rằng tổ tiên của (Mạc) Nguyên Thanh [Nguyên Thanh 元清: Chỉ Mạc Nguyên Thanh 莫元清, người giữ chức An Nam đô thống sứ 安南都統使 của nhà Mạc tại Cao Bằng thời bấy giờ. "Tổ của Nguyên Thanh" tức là ám chỉ tổ tiên nhà Mạc (Mạc Đăng Dung...). Đây là cách gọi trực tiếp người đứng đầu phe Mạc để nhấn mạnh rằng họ nay đã là "thần dân" quy thuận của nhà Thanh] có tội cướp ngôi giết vua, viện đến thuyết "Xuân Thu đại phục cừu" (Xuân Thu coi trọng việc trả thù lớn) [Xuân Thu đại phục cừu 春秋大復讎: Tư tưởng trong kinh Xuân Thu coi việc trả thù cho vua cha, tổ tiên là nghĩa lớn, dù trải qua nhiều đời vẫn có thể thực hiện], vậy (các ông) đã từng lấy sách Công Dương ra đọc kỹ chưa? [Công Dương 公羊: Chỉ Xuân Thu Công Dương truyện, một trong ba bộ truyện giải thích kinh Xuân Thu. Sứ thần nhà Thanh dùng câu hỏi tu từ này để mỉa mai việc quan lại nhà Trịnh chỉ biết trích dẫn sách vở một cách máy móc mà không hiểu "thời thế" hiện tại đã thay đổi]. Nếu trên không có vua sáng, dưới không có phương bá (chư hầu lớn thay mặt thiên tử cai quản) [Phương bá 方伯: Chỉ các chư hầu lớn có quyền thay mặt thiên tử cai quản một phương, hoặc ám chỉ triều đình trung ương có uy quyền tối cao. Ở đây, sứ thần khẳng định nhà Thanh chính là "minh vương" và "phương bá", do đó không cho phép tư thù làm loạn thiên hạ], thì việc tự ý trả thù còn có thể chấp nhận được; nếu không phải vậy, thì cầm dao đi tìm kẻ thù để giết, đó là con đường gây đại loạn, là điều vương pháp nhất định phải cấm. Vương hãy thử nghĩ xem ngày nay là thời nào, lại có thể nói là không có vua sáng, không có phương bá được sao? Lời đó vừa thốt ra, mắc tội đã không nhỏ, đây chính là việc triều thần không biết đọc sách mà làm hỏng việc nước của Vương, đó là điều thứ nhất.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Lại nói rằng Cao Bằng vốn là đất của An Nam, Bản viện há chẳng biết điều đó sao? Nhưng khi trước đây, vào thời nhà Mạc còn hùng mạnh, khiến tiên tổ của Vương không thể tự chống đỡ, cũng phải cầu cứu Thượng quốc, muốn nhà Mạc rút lui về giữ Lạng Sơn, Cao Bằng mà cũng không được. Cuối cùng nhờ vào uy linh của Thượng quốc, khi an trí nhà Mạc ở Cao Bằng, quý quốc còn đang mừng rỡ không xuể, thì còn có thì giờ đâu mà nghĩ đến việc trả thù? Giả sử sau đó, vào thời cuối nhà Minh nhiều biến cố, (quý quốc) nhân lúc họ loạn mà xâm chiếm khi họ suy vong, thì ai có thể trách cứ được?
Nay đương lúc Quốc triều (nhà Thanh) mới ổn định thiên hạ, cùng đời đổi mới, nhà Mạc đã quy thuận, triều đình lại càng ban thêm ân sủng, mà quý quốc lại đem quân đánh chiếm, như vậy không phải là lấy đất của nhà Mạc, mà chính là lấy đất của triều đình; không phải là đuổi kẻ tiếm nghịch đang trốn chạy, mà chính là đuổi người của triều đình rồi." [Quốc triều định đỉnh 國朝定鼎: "Quốc triều" là cách nhà Thanh tự xưng. "Định đỉnh" 定鼎 là điển cố từ thời Hạ Vũ đúc 9 đỉnh tượng trưng cho Cửu Châu, sau này dùng để chỉ việc lập quốc, định đô, ổn định chính quyền. Ám chỉ nhà Thanh đã bình định thiên hạ, lập nên trật tự mới.]
Đây chính là việc triều thần không biết xem xét thời thế mà làm hỏng việc nước của Vương, đó là điều thứ hai. Lại nữa, trước đây Vương có gửi thư cho Kim Phủ viện [Kim Phủ viện 金撫院: Chỉ Tuần phủ Quảng Tây. Thời Thanh, Tuần phủ thường kiêm hàm Đô sát viện Hữu phó đô ngự sử, nên được gọi kính trọng là "Phủ viện". Người này là quan chức trực tiếp thay mặt triều đình Thanh giao thiệp với An Nam ở biên giới], và lần này làm sớ tấu về, đều lấy cớ Mạc Nguyên Thanh trước đây từng cùng với Quang Trạch Vương Hoàng Ứng Linh cùng đồng bọn cùng uống máu thề thốt làm những việc ác, cho rằng Thiên Triều ắt hẳn sẽ căm ghét họ, nhất định sẽ cam tâm diệt trừ, điều này lại càng buồn cười. [Quang Trạch Vương Hoàng Ứng Linh 光澤王黃應麟: "Quang Trạch Vương" có thể là tước hiệu của một thế lực cát cứ địa phương, hoặc tàn dư nhà Nam Minh (nhà Minh có tước Quang Trạch Vương, nhưng họ Chu; Hoàng Ứng Linh có thể là một thủ lĩnh địa phương hoặc tướng lĩnh liên minh với nhà Mạc). Việc Lê Trịnh lôi chuyện "huyết thệ" (歃血 thề nguyền) giữa Mạc Nguyên Thanh và Hoàng Ứng Linh ra để tố cáo với nhà Thanh, nhưng sứ thần Thanh bác bỏ, cho rằng đó là "cựu ác" (chuyện cũ), nhà Thanh không chấp nhặt.]
Lòng dạ của bậc Đế vương, việc qua rồi không truy cứu, người đến quy phục không khước từ, lòng dạ khoáng đạt công bằng (đãng đãng bình bình), không nhớ mối ác cũ, há lại keo kiệt so đo (tiết tiết) mà không quên lỗi lầm của người khác sao? Huống chi, chưa nói đến Mạc Nguyên Thanh, nếu Quang Trạch Vương còn sống, chỉ cần cúi đầu quy thuận thành tâm, thì lập tức được ban ân sủng đặc biệt, làm Đại vương hay Tiểu hầu, đều không thể lường trước được, huống chi là những kẻ bị bức ép theo? Nếu nhất quyết muốn lấy những lỗi lầm đã qua, làm thành tội án cho hiện tại, thì cũng là không hiểu rõ ý chỉ khoan dung độ lượng của Hoàng thượng ta rồi. Huống chi, quý quốc đã nói là báo thù chín đời, lại cứ thao thao bất tuyệt lấy thề thư của họ ra mà nói, chẳng lẽ lại là thay bản triều (nhà Thanh) mà báo thù sao? Đây là việc triều thần không biết quan sát sự biến đổi mà làm hỏng việc nước của Vương, đó là điều thứ ba.
Lại nữa, quý quốc đã đuổi Mạc Nguyên Thanh, Kim Phủ viện tuân theo tư văn của Binh bộ, hiểu dụ quý quốc, khi đó (quý quốc) có làm một tờ cam kết [Cam kết 甘結: Một loại văn bản pháp lý thời cổ, trong đó người ký tự nguyện cam đoan một sự việc nào đó là thật, hoặc hứa sẽ làm gì đó, nếu sai phạm thì "cam tâm thụ tội" (chịu tội). Ở đây, quan lại nhà Trịnh đã làm giấy cam đoan rút quân khỏi Cao Bằng], viết rằng: Lê Hiếu, Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Đình Lộc v.v. triệt binh sáu đạo, nếu có hư vọng, thì Lê Hiếu cam tâm chịu tội. [Lê Hiếu, Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Đình Lộc 黎斆、胡士楊、阮廷祿: Tên các quan võ/văn của phủ Chúa Trịnh được cử đi đốc suất việc rút quân hoặc giao thiệp với nhà Thanh thời điểm đó. (Lưu ý: chữ "斆" có thể là dị thể hoặc lỗi nhận diện của chữ "僖" hoặc tên riêng nào đó, nhưng tạm dịch âm là Lê Hiếu, hoặc Lê Giáo)]. Nay làm sớ tấu về, lại nói đã sai viên mục đến trấn thủ Cao Bằng. Nếu trước đã triệt binh, mà nay lại đến trấn thủ, thì đó là trước kính sau ngạo, tội không thể kể xiết. Nếu mang tiếng là triệt binh, mà thực ra chưa triệt, thì đó là bịa không thành có, tội lại càng không thể kể xiết. Phép đạo của nước nhỏ thờ nước lớn, cốt ở chữ Tín. Người mà không có tín, thì chẳng biết làm sao được. Trẻ con đùa với bóng, chẳng biết lại bị bóng đùa lại [Trẻ con đùa với bóng 稚子弄影: Một hình ảnh ẩn dụ rất hay của sứ thần. Ý nói nhà Trịnh tưởng mình khôn khéo, dùng kế "dương đông kích tây" hoặc "giương cờ rút quân nhưng thực chất là chiếm đóng" (bịa không thành có), tưởng là lừa được nhà Thanh, nào ngờ rốt cuộc lại tự chọc giận Thiên triều, tự rước họa vào thân (bị bóng đùa lại)]. Đây là việc triều thần không biết lo liệu hoạn nạn mà làm hỏng việc nước của Vương, đó là điều thứ tư.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Lại nữa, Bản viện đã mặt đối mặt hiểu dụ, việc thuận theo hay chống lại hiện nay, chính là đầu mối của họa phúc. Quan lại của quý quốc lại nói: Bản quốc cung thuận, chưa từng mất bổn phận bề tôi, Thiên Triều quyết không giáng cho tội danh vô cớ. Đâu biết rằng Mạc Nguyên Thanh đã nhận sắc ấn, tức là bề tôi của Thiên Triều. Trong thiên hạ, có kẻ nào cung thuận với Thiên Triều, mà lại đi đuổi bề tôi của Thiên Triều, còn có thể gọi là cung thuận được sao? Huống chi, cái gọi là tiến cống, há đâu phải tham lam tài vật của quý quốc? Bất quá chỉ là muốn quý quốc tỏ lòng cung kính mà thôi. Chính là dựa theo lẽ 'nhậm thổ tác cống' (tùy theo thổ sản mà cống) [Nhậm thổ tác cống 任土作貢: Điển cố từ Thượng Thư - Vũ Cống. Ý nói việc cống nạp là dựa theo thổ sản của địa phương mà dâng lên, cốt lõi là thể hiện lòng "cung kính" và sự thần phục về chính trị, chứ Thiên triều (nhà Thanh) không hề tham lam "tài vật" hay làm giàu từ nước nhỏ. Sứ thần dùng lý lẽ này để bác bỏ việc Lê Trịnh dùng chuyện "tiến cống" để che đậy cho hành động xâm chiếm Cao Bằng], ắt phải tuân theo chế độ (ba năm một lần cống), mà nên kính cẩn tuân thủ định chế vậy. Đây là việc triều thần không biết phụng sự nước lớn (thủ lễ) mà làm hỏng việc nước của Vương, đó là điều thứ năm.

Người xưa có nói: 'Có hổ báo trong núi, thì người ta không dám vào hái rau'. Đạo làm tôi thờ vua, thấy ai vô lễ với vua mình, thì phải trừng trị, như chim ưng chim diều săn đuổi chim sẻ vậy [Ưng chiên trục điểu tước 鷹鸇之逐鳥雀: Chim ưng 鹰 và chim diều 鹯 săn đuổi chim sẻ. Điển cố từ Tả Truyện (Văn Công năm thứ 18): "Thấy ai vô lễ với vua mình, hãy trừng trị, như chim ưng chim diều săn đuổi chim sẻ vậy”. Sứ thần dùng hình ảnh này để cảnh cáo: Nhà Thanh coi việc nhà Trịnh tấn công Mạc Nguyên Thanh (người đã quy thuận nhà Thanh) là hành động "vô lễ" với Thiên tử, và nhà Thanh sẽ trừng trị như chim dữ săn mồi]. Hoàng thượng vốn có lòng hiếu sinh (yêu chuộng sự sống) như thế, mà không được quý quốc tin phục, đây chính là lúc hổ dữ chim diều nổi giận, thật đáng sợ lắm thay!

Phàm dập tắt họa hoạn khi họa đã xảy ra, thì khó mà thành công; chữa trị bệnh tật khi bệnh chưa phát, thì dễ dàng ra tay. Bản viện thấu hiểu lòng nhân sâu rộng của Hoàng thượng, nên muốn làm kế 'uốn cong ống khói, dời củi đi' (phòng ngừa họa lửa) [Khúc đột tỉ tân 曲突徙薪: Uốn cong ống khói (khúc đột) và dời củi đi xa (tỉ tân). Điển cố từ Hán Thư - Hoắc Quang Truyện, ví dụ cho việc phòng ngừa họa hoạn từ khi chưa xảy ra. Lý Tiên Căn ám chỉ mình đang cố gắng ngăn chặn chiến tranh trước khi nó bùng nổ], thế mà triều thần của các ngươi vốn là rường cột nước nhà, lại cứ an nhiên như chim yến chim sẻ trong nhà, chẳng những không biết lo xa, lại còn muốn nhân dịp này mà diệt trừ Mạc Nguyên Thanh. Đây lại là sự u mê không biết nhìn xa, làm hỏng việc nước của Vương, đó là điều thứ sáu (và bảy, văn bản gốc bị lược/xáo trộn).

...Các ngươi lại gọi Mạc Nguyên Thanh là 'lũ tàn dư phản nghịch', cho rằng triều đình ắt hẳn sẽ cùng ghét bỏ. Đâu biết rằng luật pháp tuy đặt ra đại pháp, nhưng lễ nghĩa vẫn thuận theo nhân tình. Từ thời Nghiêu, Thuấn, Tam Đại cho đến nay, thường có chuyện con cháu bất hiếu làm nhục tiên nhân, nhưng tuyệt đối chưa từng có chuyện truy cứu cái ác của tổ tiên mà diệt tuyệt hậu duệ của họ. Bản triều chỉ biết Mạc Nguyên Thanh là Đô thống được thụ phong, chứ không biết việc khác. Nếu khiến quý quốc không giữ được sự cung thuận vốn có, thì đội quân hỏi tội, sáng đi tối đến...

... [Đoạn điển cố nổi tiếng] ... Người xưa có chuyện: Làm một cái hũ có miệng hẹp vừa đủ lọt cánh tay, bên trong bỏ quả đào (hoặc hạt dẻ/óc chó), ném vào trong rừng. Bầy khỉ tranh nhau thọc tay vào bắt, khi đã nắm chặt được quả thì nắm tay to ra, không thể rút ra được nữa. Đến khi người thợ săn tới, chúng kêu gào nhảy vọt, kinh hãi đủ điều, nhưng tay vẫn không chịu buông quả, vì thế không thể thoát thân, đành ngẩng đầu chịu trói, không sót một con nào. [Hầu nao thám đào 猴猱探桃: Điển cố về con khỉ thọc tay vào hũ hẹp để bốc hạt dẻ hoặc quả đào. Khi nắm chặt được quả, nắm tay phình to ra không rút ra được. Khỉ vì tham lam, không chịu buông quả ra, nên cuối cùng bị thợ săn bắt dễ dàng. Ẩn ý: Cao Bằng chỉ là một vùng đất nhỏ bé, hẻo lánh ("quả đào"). Nhà Trịnh vì tham lam chiếm giữ mà không chịu buông theo yêu cầu của nhà Thanh, sẽ khiến toàn bộ "cánh tay" (tức toàn bộ Đại Việt) bị mắc kẹt và phải chịu sự trừng phạt quân sự của nhà Thanh ("bị trói buộc")].

Nay Cao Bằng chính là 'quả đào trong hũ' ấy, thọc vào mà không nỡ buông ra, ắt sẽ có nguy cơ bị trói buộc. Đấng thống soái của quý quốc mà lại đi bắt chước kế 'khỉ thọc tay bắt quả' của loài cầm thú, chẳng phải quá nhục nhã sao? Đây là việc triều thần không biết tránh họa mà làm hỏng việc nước của Vương, đó là điều thứ tám.

Phàm đạo mưu tính việc nước, khi thờ nước lớn và giao hảo với nước láng giềng, phải biết lúc cứng lúc mềm, lúc uốn lúc duỗi... Nếu cứ khư khư giữ lấy, không biết điểm dừng, ắt sẽ có sự hối hận của 'rồng bay quá cao' (cực thịnh tất suy). Người ta ắt phải tự mình làm nhục mình, rồi sau người khác mới làm nhục được. Cầm ngược lưỡi gươm, trao cán cho người, há phải là kế sách để lo liệu về sau sao? Đây là điều thứ chín.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Nay Vương lúc đầu không xin chỉ thị (của Thiên triều) để phân giải, mà chuyên quyền làm bừa ở trước; tiếp đó thì nói dối là rút quân, mà thực chất vẫn lén lút bố trí ở trong; nay lại coi nhẹ chiếu chỉ của Thiên triều, dùng lời lẽ xảo trá để bào chữa, mà ngạo mạn chống đối ở sau. Đó gọi là biết cứng mà không biết mềm, biết duỗi mà không biết co, không hiểu đạo 'tri túc' (biết đủ), ắt sẽ phải gánh lấy 'hối hận của rồng cao' [Kháng long chi hối 亢龍之悔: Điển cố từ Kinh Dịch - Quẻ Kiền, hào Thượng cửu: "Kháng long hữu hối". Rồng bay lên quá cao, đến mức tận cùng thì ắt có hối hận. Ám chỉ kẻ ở địa vị cao mà kiêu ngạo, làm việc quá đà, không biết giữ mình, không biết lùi, ắt gặp tai họa]. Người ta ắt phải tự làm nhục mình, rồi sau đó người khác mới làm nhục mình; cầm ngược thanh gươm báu Thái A, giao chuôi kiếm cho người khác, há đó là kế sách lo liệu hậu sự sao? [Đảo trì Thái A, thụ nhân dĩ bính 倒持太阿,授人以柄: Thái A là thanh kiếm báu thời cổ. Cầm ngược thanh kiếm, đưa chuôi kiếm cho người khác (mình nắm lưỡi kiếm). Ám chỉ việc làm ngu ngốc, tự mình nắm phần nguy hiểm, trao phần chủ động cho đối thủ, tự chuốc họa vào thân]. Đây là việc triều thần không sáng suốt mà làm hỏng việc nước của Vương, đó là điều thứ chín.
...Từ đời Hán đến đời Đường, trong suốt bảy trăm năm, (An Nam) há chẳng từng là quận huyện ngang hàng với nội địa (Trung Nguyên) sao? Phàm việc triều đình không dễ dàng phát binh đánh An Nam, đó là độ lượng của bậc đế vương. Chấp sự lại cứ cho rằng không có ngày triều đình phát binh, mà tha hồ nói càn nói dối, thì đó là tiết tháo của kẻ bội nghịch rồi. Mà đã đến mức bội nghịch, thì độ lượng của bậc đế vương há lại có thể dung tha sao? Đây lại là việc triều thần không giỏi biết người biết ta mà làm hỏng việc nước của Vương, đó là điều thứ mười.
Tổng cộng mười điều này, vốn là điều mà người tầm thường cũng dễ hiểu, người bậc trung trở lên đều tin sâu, thế mà triều thần không tỉnh ngộ, để làm hỏng việc nước. Cho nên Bản viện không thể không tỉ mỉ mà nói ra. Bản viện nhận mệnh lệnh ngày lên đường, đã xin chỉ thị rồi mới đi, Vương không tuân theo chỉ thị, thì Bản viện có chịu nhục gì đâu? Điều đáng tiếc thay là cơ nghiệp tông xã hàng trăm năm, sinh linh hàng triệu người, lãnh thổ hàng ngàn dặm, mà lại không có một người nào biết lo xa tính sâu, để làm kế sách trị nước lâu dài. Từ chối phúc mà rước họa, tránh lợi mà chuốc hại, không nhẫn được việc nhỏ mà làm hỏng mưu lớn, điều mà ngay cả kẻ ngu cũng không làm vậy.
Nay Bản viện lưu lại công quán thêm một ngày, thì quý quốc vẫn còn thêm một ngày để xoay chuyển tình thế. Cao Bằng từ lâu đã là hư vô (không còn thuộc về quý quốc), dân Cao Bằng vốn là con số không [Tử hư, Ô hữu 子虚, 烏有: Xuất phát từ Tử hư phú và Ô hữu tiên sinh truyện của Tư Mã Tương Như thời Hán. Ý chỉ những điều không có thật, hư ảo. Sứ thần mỉa mai rằng Cao Bằng thực tế đã không còn là đất của nhà Lê Trịnh, nên việc "mất" nó chẳng khác nào mất đi một thứ vốn dĩ đã không còn tồn tại]. Bớt đi cái vốn không có của quý quốc, thuận theo điều Thiên tử muốn có, gạt bỏ lời lẽ phản nghịch, thu lấy hiệu quả của lòng trung thuận về sau. Có phúc không họa, có lợi không hại, triều thần cũng ngại gì mà nhất định không làm? Vương hãy cẩn thận suy nghĩ, nghiền ngẫm kỹ càng, tuân theo chiếu chỉ. Nếu chỉ chăm chăm nhìn vào lợi ích trước mắt, hối hận sao kịp! Đừng chần chừ! Đừng chần chừ!
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Khâm mệnh An Nam Phó sứ, Binh bộ Chính nhất phẩm Dương (Triệu Kiệt) kính gửi thư cho An Nam Quốc vương Lê điện hạ. Bưng chiếu chỉ vào nước, tuyên đọc đã được mười bốn ngày rồi. Tưởng rằng thánh ân rộng lớn, chiếu chỉ ôn hòa, (quý quốc) hẳn đã lập tức tuân theo. Thế nhưng quý quốc vẫn chần chừ, triều thần vẫn khăng khăng biện bạch... Nay xin được vì Vương mà nói những lời thống thiết.
Vương cùng Mạc Nguyên Thanh là thù thế hệ, dốc lòng báo thù, Hoàng thượng đã hiểu rõ lắm rồi, chiếu dụ cũng đã nói rõ ràng tường tận, vậy mà vẫn cứ rầy rà lấy đó làm cớ, kiên quyết viện dẫn chuyện nước Tề và nước Kỷ làm chứng cứ. Không biết rằng thuyết "báo thù chín đời" [Tề Kỷ phục cừu 齊紀爲証: Ám chỉ Tề Tương Công trả thù cho tổ tiên là Tề Ai Công (bị vua nước Kỷ nấu chín cách đó 9 đời). Nhà Lê Trịnh thường dùng điển cố này để biện minh cho việc tiêu diệt nhà Mạc], Hồ Văn Định (Hồ An Quốc) [Hồ Văn Định 胡文定: Tức Hồ An Quốc (1074–1138), một đại nho thời Tống, được truy thụy là Văn Định. Ông viết Xuân Thu Hồ Thị truyện, trong đó ông lập luận rằng: Nếu thiên hạ có "minh vương" (vua sáng, chính quyền trung ương hợp pháp) thì các chư hầu không được tự ý gây chiến báo thù riêng, mà phải giao cho minh vương xử lý. Đây là bác bỏ hoàn toàn luận điểm "Xuân Thu đại phục cừu" mà nhà Trịnh viện dẫn] đã bác bỏ cái sự hoang đường của Công Dương truyện, mà chính Công Dương cũng đã nói: "Trên có minh vương, thì (Tề) Tương công không được trả thù riêng". Nay Thiên tử thánh thần nhân vũ, có thể nói là "trên không có minh vương" hay sao? Một lời nói sai, búa rìu (hình phạt) sẽ theo ngay sau. Huống chi, oán thù với kẻ địch... nếu không biết chỉnh đốn cương giới, thuận theo lẽ phải, mà cứ khăng khăng làm bừa, ắt sẽ tự chuốc lấy đại họa, khiến trăm họ lầm than, tông miếu nghiêng ngả. Đó chẳng phải là điều mà người có trí tuệ nên tránh hay sao? Kính mong Vương sáng suốt quyết đoán!
[Quân đội Thiên triều] chớp nhoáng không đợi xoay gót chân đã áp sát biên giới, Vương lại lấy gì để tự giải thoát và miễn tội đây? Còn như việc quý quốc cãi là che giấu tội lỗi của Hoàng Ứng Linh, Dương Tường, thì đây đều là những chuyện cũ đã qua. Thánh triều rộng lượng khoan dung, giả sử Dương, Tường hãy còn, nếu biết rửa lòng đổi dạ mà hướng về giáo hóa, Thánh triều còn sẽ tha tội và phong tước cho, đâu có chấp nhất chút oán hận cũ nho nhỏ này chăng?
Bản triều định đỉnh thiên hạ, Mạc Nguyên Thanh quy mệnh đầu thành trước Vương, thì đất Cao Bằng là đất của triều đình, dân Cao Bằng là dân của triều đình. Hoàng thượng đặc biệt sai sứ thần, mệnh cho tuyên dụ, kỳ vọng dùng lời lẽ uyển chuyển để đạt được thượng tình (ý chỉ của vua). Ngờ đâu các bầy tôi của Vương ngạo mạn vô lễ, trái chiếu chỉ không tuân, thì cũng đã phụ lòng thịnh tâm nhân ái của Thánh thiên tử lắm rồi. Đem việc này tâu lên, Hoàng thượng tự nhiên sẽ hắc nhiên chấn nộ (đùng đùng nổi giận), trị tội Vương vì không ngửa thể thánh ý, mà các đại thần trong triều lại vui lòng được toại nguyện cái nghị sự dùng vũ lực ban đầu. Sứ thần sáng sớm vừa về đến kinh, thì đại binh chiều tối đã kéo sang rồi.
Không thỉnh mệnh (Thiên triều) mà tự ý gây chiến, đã làm giấy cam kết triệt binh mà vẫn lén lút thêm quân thú giữ, rốt cuộc được phụng chỉ hòa giải mà vẫn còn bội nghịch không tuân, mang tội đại bất vĩ (tội tày trời không thể tha) [Đại bất vĩ 大不韙: Tội lỗi cực lớn, tội không thể dung tha. Thường dùng để chỉ tội phản nghịch, chống lại thiên tử], đi chạm vào mũi nhọn không thể chống đỡ. Cung mạnh ngựa dữ, tướng khỏe binh tài, ba tỉnh cùng thống lĩnh [Ba tỉnh cùng thống lĩnh 三省同勒: Chỉ việc huy động quân đội từ ba tỉnh Vân Nam, Quý Châu và Quảng Tây của nhà Thanh. Đây là ba tỉnh giáp biên giới với Đại Việt, thường được nhà Thanh dùng làm bàn đạp tấn công xuống phương Nam], chín mũi nhọn cùng tiến công, ta thấy một dải đất An Nam, rốt cuộc sẽ không còn một mống nào sống sót thôi! [nguyên văn: Tiều loại 噍類: "Tiều" là nhai, nghiền. "Tiều loại" chỉ những sinh vật còn sống, còn có thể nhai nuốt. Trong văn cảnh quân sự, "chung vô tiều loại" (cuối cùng không còn tiều loại) là một lời đe dọa tàn khốc, nghĩa là sẽ bị tàn sát không còn một mống nào sống sót (tuyệt diệt)]. Tham lam một tấc đất Cao Bằng đã bị vứt bỏ từ lâu, mà làm hỏng xã tắc sinh minh toàn thịnh của An Nam, thịt của bọn bầy tôi làm hỏng việc nước kia, há có thể ăn cho hết được sao?
Hơn nữa, Nguyên Thanh lui về Nam Ninh [Nam Ninh 南寧: Phủ Nam Ninh thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Khi bị quân Lê Trịnh đánh bại và dồn ép, Mạc Nguyên Thanh đã phải chạy sang khu vực biên giới gần Nam Ninh để nương nhờ sự bảo trợ của nhà Thanh. Việc Mạc Nguyên Thanh phải "thoát cư" (chạy trốn) đến đất Thanh là một cái cớ trực tiếp để nhà Thanh can thiệp], tiền bạc lương thực, tốn phí kho tàng của triều đình... Nếu (Vương) vẫn kiêu ngạo không hối cải, thì việc hưng sư vấn tội, là điều không cần đợi người trí cũng có thể quyết đoán được rồi.
Nay Vương chỉ cần đem địa giới Cao Bằng, cùng các viên mục và nhân dân đầu thuận bị bắt cóc, tạo lập kỹ lưỡng một sổ bộ văn sách minh bạch, giao cho bản bộ cất giữ. Vương lại phái quan viên thỏa đáng, đến Cao Bằng, đợi bản bộ vào nước, một mặt làm sớ đề báo, một mặt áp giải Nguyên Thanh đến Cao Bằng giao tiếp minh bạch, để kết thúc án tuân chỉ hôm nay của Vương. Như thế, khi bản bộ về triều, tâu báo Vương kính cẩn tuân theo thánh ý, (thì mới mong được ân xá và khôi phục phong tước).
Tấm lòng nhỏ mọn này, thực ra là ngửa thể ý trời hiếu sinh (yêu chuộng sự sống) của Hoàng thượng, làm mưu kế lâu dài cho tông xã của Vương, làm kế sách bảo toàn sinh linh, mong Vương hãy xem xét kỹ càng mà làm theo.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ngày mười sáu, chúng tôi cùng bàn bạc: [và gửi thư cho chúa Trịnh]
“Lê thị chỉ mang hư danh, mọi việc đều quyết đoán ở Phụ quốc (tức ngài). Nay ngài lại đang có tang mẹ [nguyên văn: mẹ ưu母憂: Chỉ việc mẹ qua đời, theo lễ giáo Nho giáo phải từ quan về chịu tang. Sứ thần nắm rất rõ tình hình nội bộ Đàng Ngoài, biết Chúa Trịnh hoặc một vị quan đầu triều đang có tang, nên dùng chiến thuật "đánh vào tâm lý": Ngài không thể lấy cớ có tang để chối bỏ trách nhiệm ngoại giao sinh tử này], dường như không dự đến việc nước. Nhưng chúng tôi vẫn cần phải viết thư ân cần dụ bảo, để ngài không thể lấy cớ đó mà đẩy bỏ trách nhiệm. Cầm chiếu dụ đi về phương Nam, đúng lúc ngài đang có đại tang, chưa được gặp mặt, trong lòng vô cùng áy náy. Những việc trong chiếu thư, vốn nghĩ rằng Quốc vương và các đình thần quý quốc tự có sự bàn bạc sâu xa, chịu ơn thánh ân, kính cẩn tuân theo lời trời. Cho nên dù trì hoãn ở triều đình nhiều ngày, cũng không tiện để làm phiền đến tai ngài [khi đang tang chế].
Nào ngờ những người bàn việc nước lại cố chấp sai lầm, lấy cớ Nguyên Thanh là thù nghịch, muốn thỏa sức báo thù, dám trái chiếu chỉ, tự dấn thân vào họa khôn lường. Chẳng lẽ ngài đang lúc đau thương tột độ, mà họ cũng không cho ngài được biết hay sao? Bản bộ hôm qua đã gửi thư cho Quốc vương rồi, đầu đuôi không cần phải nói lại. Chỉ nghĩ rằng Quốc vương lên ngôi từ sớm, chưa chuyên quyền quyết đoán, mà Giao Nam (An Nam) từ nguy hóa an, từ suy hóa thịnh, đều là công lao trung cần nhiều đời của tổ phụ con cháu ngài (tức họ Trịnh). Nay đang lúc ranh giới giữa thuận và nghịch, theo và chống, cũng là nơi họa phúc tồn vong ngầm dựa vào nhau. Nếu ngài không nhịn cái tình một ngày, mà tính kế sâu xa trăm năm, tôi e rằng các bầy tôi bàn việc kia thấy nông hiểu ít, không kẻ nào là không làm hỏng việc, mà làm lầm lỗi nước, đầu độc dân chúng vậy.
Việc lớn nhỏ của quý quốc, Hoàng thượng đều biết rõ cả. Ngay cả việc ngài gắng sức phò tá ấu chúa [Khuông hựu ấu chúa 匡翊幼主: Phò tá, giúp đỡ vị vua nhỏ tuổi hoặc chưa có nhiều kinh nghiệm. Ám chỉ vua Lê Huyền Tông (Lê Duy Hi) lên ngôi từ sớm (năm 12 tuổi), thực quyền hoàn toàn thuộc về Chúa Trịnh. Sứ thần nhà Thanh ngầm khẳng định: Chúng tôi biết rõ ai mới là người cầm đầu, đừng hòng để vua Lê ra chịu tội thay], thay nước nhận việc, nắm đại quyền, quyết đại mưu, Hoàng thượng cũng đều biết rõ. Mấy năm nay cống chức siêng năng, giữ trọn tiết tôi chính, há chẳng phải là do ngài tán lý (phụ giúp) hay sao? Chỉ riêng đến phiên này trái chiếu chỉ, quan hệ không nhỏ, một lần chạm đến thiên nộ, (Hoàng thượng) chắc chắn sẽ cho rằng Lê Vương chưa từng chủ sự, lại không biết đó là mưu lầm của các bầy tôi bàn việc hợp lại, mà trực tiếp giáng tội xuống một mình lão thần đương quốc (ngài). Ví như 'cá trong ao, cây trong rừng' [Trì ngư lâm mộc 池魚林木: Điển cố kết hợp từ hai câu: "Thành môn thất hỏa, ương cập trì ngư" (Thành cửa mất lửa, họa lây đến cá ao) và "Sở vương viên viên, họa diên lâm mộc" (Vua Sở mất vượn, họa lây đến cây rừng). Ám chỉ việc vô cớ bị liên lụy. Sứ thần cảnh báo: Nếu các quan chủ chiến gây họa, Hoàng đế nhà Thanh sẽ không thèm phân bua, mà trút hết cơn giận lên đầu "lão thần đương quốc" (tức Chúa Trịnh)], đối với ngài lại càng phải lo liệu từ trước rồi. Nếu lúc đó mới cố sức lấy cớ 'cư tang thủ chế' (ở tang chịu tang) để biện minh, thì muộn màng không kịp việc. Nếu hai sứ thần chúng tôi hôm nay không dùng lời lẽ thẳng thắn để thông báo cho ngài, há chẳng cũng có tội là không tường tận cẩn thận sao? Cho nên mới khẩn thiết nói với ngài.
Mong ngài trên thì nghĩ đến việc tế tự xã tắc của Lê Vương, cùng công lao trung nghĩa khôi phục của tiên tổ ngài, đã nên bảo vệ để đời đời rộng lớn; giữa thì nghĩ đến quý tông (họ Trịnh) là vọng tộc An Nam, cũng nên tự bảo toàn danh tiếng thân mình; dưới thì nghĩ đến tính mạng hàng trăm vạn sinh linh, càng nên bảo toàn nghỉ dưỡng. Hãy bớt chút lòng thương xót (đau buồn), mà ra việc nước [Dời hiếu làm trung 移孝作忠: Một khái niệm trọng yếu của Nho giáo. Khi "Trung" và "Hiếu" xung đột (đang có tang mẹ nhưng phải lo việc nước), thì phải nén nỗi buồn riêng (hiếu) để hoàn thành trách nhiệm với quốc gia/quân vương (trung). Sứ thần dùng đạo lý Nho giáo để ép Chúa Trịnh phải nghe lời], hết sức khuyên Quốc vương tuân theo chiếu chỉ, để đón lấy lòng vui vẻ của triều đình. Đợi khi Bản bộ về triều, đem việc này tâu lên, Hoàng thượng tự nhiên sẽ khen ngợi lòng trung thuận của ngài. Đây chính là tiêu họa khi chưa nẩy mầm, tạo phúc đến vô tận, 'dời hiếu làm trung', thì hương linh tiên quân dưới chín suối cũng sẽ vô cùng an ủi [Đại quân 大君: Thời cổ dùng để chỉ Thiên tử, hoặc chỉ người cha/người chồng đã khuất. Ở đây, kết hợp với cụm "cửu tuyền chi linh" (hương linh dưới chín suối), nó chỉ tiên tổ/bậc sinh thành đã khuất của Chúa Trịnh. Sứ thần đánh vào tình cảm gia đình: Nếu ngài tuân thủ, tiên tổ ngài dưới suối vàng cũng được yên lòng], mà ngài cũng tránh được sự liên lụy về sau. Mong ngài hết sức lưu tâm, đó là điều cầu khẩn."
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
"Ngày mười bảy, Trịnh Chương [Trịnh Chương 鄭樟: Đây là lỗi khắc in. Có lẽ là Trịnh Tạc hoặc Trịnh Căn 鄭根 thế tử của Trịnh Tạc. Đây là đại diện của phủ Chúa Trịnh đứng ra trả lời sứ thần.] làm thư phúc đáp đầy đủ. Trong thư xưng rằng: Quốc vương (Lê Huyền Tông) nay tuổi tác đã dần lớn [Xuân thu tiệm trường 春秋漸長: Tuổi tác dần lớn. Ý nói vua Lê Huyền Tông đã trưởng thành], được giáo hóa phò tá đã lâu, việc nước cơ mật không điều gì là không thấu tỏ. [Khải ốc dĩ tố 啓沃已素: "Khải ốc" 启沃 xuất xứ từ Thượng Thư, chỉ việc bề tôi hết lòng khuyên bảo, mở mang tâm trí cho vua. "Dĩ tố" nghĩa là đã từ lâu, đã quen. Ý nói vua Lê đã được các quan (chúa Trịnh) giáo dục, phò tá bài bản từ lâu, không phải là đứa trẻ ngu ngơ].
Còn như việc nghịch tặc Mạc Nguyên Thanh [Nghịch nghiệt Mạc Nguyên Thanh逆孽莫元清: Phía Đại Việt vẫn kiên quyết gọi Mạc Nguyên Thanh là "nghịch nghiệt" (kẻ phản nghịch, tội đồ), trong khi sứ thần nhà Thanh gọi là "quy thuận chi thần" (bề tôi quy thuận). Đây là sự khác biệt cốt lõi về lập trường chính trị], Quốc vương thực sự cảm thấy đau xót [Thương thống 傷痛: Đau xót, căm phẫn. Ám chỉ vua Lê (và chúa Trịnh) rất căm thù nhà Mạc, hoặc đau xót vì cảnh binh đao] đại để đều là (do Mạc Nguyên Thanh gây hấn/hoặc do triều đình tự quyết định chứ không phải bị che mắt). Chúng tôi kính cẩn tuân theo lời dặn dò của hai vị đại nhân [sứ thần nhà Thanh; Lưỡng đại nhân兩大人: Chỉ hai vị sứ thần nhà Thanh là Chánh sứ Lý Tiên Căn và Phó sứ Dương Triệu Kiệt.], và [sẽ phái người] hộ tống hai vị đại nhân trở về phương Nam." [Hồi Nam 回南: Chỉ việc sứ thần nhà Thanh hoàn thành nhiệm vụ, trở về phương Nam (thường là về lại phủ lỵ ở Nam Ninh, Quảng Tây, hoặc về kinh đô Bắc Kinh)].
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
AN NAM SỬ SỰ KỶ YẾU QUYỂN 3 安南使事紀要卷之三
Ngày mười tám, vua Lê sai Đồng Tồn Trạch cùng các hoạn quan đến quán sứ bẩm báo và phúc đáp. Chánh sứ và Phó sứ dùng lời lẽ chính trực lẫn khéo léo [Chánh ngôn khúc thuyết 正言曲說: Nói thẳng thắn (chánh ngôn) nhưng cũng dùng lời lẽ uyển chuyển, khéo léo, ví von (khúc thuyết) để thuyết phục. Đây là đỉnh cao của nghệ thuật đàm phán], dùng nhiều cách ví von để giảng giải. Đại để những điều họ biện luận, đều là những điều đã được phân tích rõ ràng trong hai bức thư trước. Nước ấy đối với văn pháp [lý lẽ, quy tắc ngoại giao] quanh co, không hiểu rõ tường tận, nên lại cố chấp nói bừa, do đó [chúng tôi] lại tùy theo câu hỏi mà giải thích, gần như suốt cả ngày. Nay không nói dài dòng, chỉ lược thuật phần còn lại.
Theo lời bẩm báo thì: 'Họ Mạc vốn là bề tôi của nước tôi, Cao Bằng vốn là đất đai của nước tôi. Tổ tiên của Nguyên Thanh nhẫn tâm cướp ngôi phản nghịch, nhiều đời lẩn trốn hình phạt, Nguyên Thanh lại sinh sự hãm hại, nay chạy trốn vào nội địa [Trung Quốc], lại nói nhiều lời lẽ xúc phạm, vu khống nước tôi. Triều đình [nhà Thanh] thiên vị nghe lời hắn, đến đòi đất, e rằng là không biết rõ tình hình trong đó.'
[Sứ thần] dụ bảo rằng:
- Việc các đời của An Nam, Trung Quốc đều có sách vở ghi chép. Gần đây hai nhà gây họa, Lưỡng Quảng, Vân Nam đều có tấu bản, Hoàng thượng có điều gì là không biết? Nhưng các ngươi với họ Mạc đã nhiều lần giảng hòa, thì chuyện cũ thời Gia Tĩnh [Gia Tĩnh niên gian 嘉靖年間: Thời vua Minh Thế Tông (niên hiệu Gia Tĩnh, 1522–1566). Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, dẫn đến việc nhà Lê phải cầu viện nhà Minh. Sứ thần nhà Thanh dùng chi tiết này để nói: Chuyện cũ từ thời Minh các người còn giảng hòa được, cớ sao bây giờ lại không?]. Vả lại, Nguyên Thanh đã báo thành [thành tâm quy thuận] thụ phong, thì đã là bề tôi của triều đình, không thể nói là người của các ngươi, mặc cho các ngươi xử trí. Ngay cả vua các ngươi chịu sách phong, thì cả nước An Nam cũng là đất của triều đình, giả sử có người đến xâm đoạt, triều đình nhất định sẽ hỏi tội, đây là lẽ đương nhiên của pháp cấm, cớ sao riêng Cao Bằng lại đặt ra mà không nói? Vốn dĩ ta chưa từng nói họ Mạc là người tốt gì, chỉ có điều cái sai của nước các ngươi, là ở chỗ không trước tiên dâng sớ bẩm rõ nguyên do, yên lặng nghe xử phân, mà lại thẳng tay đuổi Nguyên Thanh đi, chiếm cứ đất đai. Triều đình không truy cứu tội chuyên quyền tự tiện của các ngươi, đã là may lắm rồi, sao lại gọi là thiên vị nghe lời?
Ví như có người ở dưới trướng ta, vốn muốn mượn ta che chở, nay bị người khác vô cớ đánh cướp, áo mũ đều mất, ta không truy cứu hắn ta là may rồi. Còn như áo mũ, nhất định phải bồi hoàn. Nếu nói lời lẽ của Nguyên Thanh xúc phạm vu khống, như thuyết "Lê giả, Trịnh nghịch" [Lê giả, Trịnh nghịch 假黎逆鄭: Lời vu khống của phe Mạc (đặc biệt là Mạc Kính Vũ/Mạc Nguyên Thanh) nói rằng vua Lê là "giả" (bù nhìn, không chính danh), còn chúa Trịnh là "nghịch tặc". Sứ thần nhà Thanh gạt bỏ điều này bằng câu tục ngữ "Tương đả một hảo thủ, tương mạ một hảo khẩu" (Đánh nhau không có tay nào tốt, chửi nhau không có miệng nào hay), ý nói khi xung đột thì ai cũng dùng lời lẽ quá khích, Thiên triều sẽ không chấp nhặt từng câu chữ của kẻ bại trận] vốn dĩ rất đáng ghét, nhưng tục ngữ có câu: "Đánh nhau không có tay nào tốt, chửi nhau không có miệng nào hay", thì có đáng gì phải so đo.
[Phía Việt] bẩm rằng:
- Họ Mạc là kẻ thù truyền kiếp nhiều đời, nay mới rửa được mối hận, nếu lại thả hắn về nước, vua tôi xấu hổ, không còn mặt mũi nào.
[Sứ thần] lại dụ bảo rằng:
- Các ngươi báo thù họ Mạc, có thể nói là đã đến cực điểm rồi. Nay phụng chiếu chỉ, vì các ngươi mà giải hòa, các ngươi chính cần phải đem chiếu chỉ ban thị (công bố) cho các nước láng giềng, rằng: "Nếu không có Thiên triều khuyên dụ, ta quyết không để Nguyên Thanh trở về", đây là điều vinh dự biết bao, cớ sao lại cho là đáng xấu hổ?
[Phía Việt] bẩm rằng:
- Nguyên Thanh với chúng tôi như nước với lửa, không thể gặp mặt, há có thể lại ở chung một chỗ được?
[Sứ thần] dụ bảo rằng:
- Các ngươi biết Lê, Mạc như nước với lửa, nhưng có biết trong天地间 thiên địa gian có nước không thể thiếu lửa, có lửa không thể thiếu nước hay không? [Thuyết Âm Dương (Thủy Hỏa): Sứ thần dùng triết lý Âm Dương ("có nước không thể thiếu lửa") để biện minh cho sự cùng tồn tại. Đây là một đòn tâm lý cực kỳ cao tay: biến kẻ thù không đội trời chung thành hai mặt của một thể thống nhất, buộc nhà Lê-Trịnh phải chấp nhận sự hiện diện của nhà Mạc như một lẽ tự nhiên của trời đất]. Do đó biết rằng có Lê thì quyết không thể thiếu Mạc. Hai thứ nước lửa này, trời đất thiếu một thứ không thành thế giới; thân người thiếu một thứ không thể sinh hoạt. Ở gần nhau thì tương trợ, quay lưng lại thì gây hại. Nếu để Nguyên Thanh cứ ở mãi nơi xa, càng là mối họa trong tim gan các ngươi, [chi bằng] để ở chung một khối, mới có thể yên tâm.
[Phía Việt] bẩm rằng:
- Nguyên Thanh vốn hành xử khắc nghiệt, dân chúng không quy tâm. Nước tôi lấy lại Cao Bằng, miễn giảm thuế má, bá tánh mới thoát khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng. Nay nếu trả lại cho hắn, bá tánh lại phải chịu tội, rốt cuộc sẽ đào vong, chẳng có ích gì.
[Sứ thần] dụ bảo rằng:
- Nước các ngươi hưng binh tiến sâu, Nguyên Thanh chạy trốn nơi xa, dân chúng của hắn sợ chết, tự nhiên là hàng phục các ngươi. Nếu Cao Bằng được trả lại, lẽ nào họ không nhớ ơn chủ cũ? Nguyên Thanh đã bại vong thê thảm như vậy, làm sao có thể tiếp tục ngược đãi bá tánh? Chẳng lẽ các ngươi lại muốn Nguyên Thanh thi hành nhân nghĩa, thu phục nhân tâm, bắt chước Câu Tiễn phục quốc, rồi lại gây bất lợi cho nước các ngươi hay sao? [Câu Tiễn chi hưng phục 勾踐之興復: Điển cố Việt Vương Câu Tiễn nước Việt thời Xuân Thu, sau khi bại trận đã "nằm gai nếm mật", thu phục nhân tâm để phục quốc và tiêu diệt nước Ngô. Ẩn ý của sứ thần: Ông ta dùng chính nỗi sợ sâu kín nhất của nhà Lê-Trịnh để lật ngược vấn đề. Phía Việt lo sợ trả Cao Bằng thì dân chúng sẽ khổ. Sứ thần đáp: Hắn đã bại trận thê thảm, làm sao có đủ uy tín để làm như Câu Tiễn? Nếu hắn thực sự làm được như Câu Tiễn (thu phục nhân tâm, thi hành nhân nghĩa), thì đó lại là mối họa lớn cho các ngươi. Nhưng hắn không làm được, nên trả lại cũng chẳng sao. Đây là cách lập luận "dùng mâu thuẫn của đối phương để đánh bại đối phương"].
[Phía Việt] bẩm rằng:
- Một nước không có lý do có hai vua. Trước đây còn nói Mạc Kính Cung vốn quy phục nước tôi, nên mới được lưỡng toàn. Còn như Nguyên Thanh chống đối phản nghịch, gây hại nhiều bề. [Lưỡng toàn 兩全: Cả hai bên đều được vẹn toàn. Phía Việt cố gắng phân biệt giữa Mạc Kính Cung (người đã từng quy hàng nhà Lê, được dung thứ) và Mạc Nguyên Thanh (người chống đối) để tìm kẽ hở trong lập luận "hòa giải" của sứ thần].
[Phía Việt] bẩm rằng:
- Sách phong chiếu thư, mệnh cho Quốc vương thống trị đất đai, Nguyên Thanh không tuân chiếu chỉ, [nếu để hắn tự lập] thì hóa ra có hai vua rồi.
[Sứ thần] dụ bảo rằng:
- Các ngươi đã có một đoạn lý lẽ này, cớ sao năm trước không xin chỉ thị của triều đình để xử lý, mà lại tự tiện động binh? Có lý mà lại làm thành vô lý. Ví như người thông ngôn họ Nguyễn của các ngươi vốn là người của Hồ Sĩ Dương, bỗng nhiên bỏ trốn, đầu nhập vào phủ Vương. Một ngày kia Sĩ Dương ở trong phủ Vương gặp ngươi, là cứ thế mà thẳng tay xử trị ngay, hay là phải tâu lên Vương, nghe Vương phân phó? Nếu không tâu Vương, cứ thẳng tay xử trị, Vương tất sẽ nổi giận. Hơn nữa, không những không truy cứu tội phản chủ của tên thông ngôn, mà trước hết sẽ truy cứu tội chuyên quyền của Sĩ Dương. Lời nói hôm nay, không phải là điều sứ thần được phép làm ngơ bỏ qua. [Hồ Sĩ Dương 胡士楊: Một võ quan cao cấp của phủ Chúa Trịnh thời bấy giờ (từng giữ chức Tả đô đốc). Sứ thần dùng chính nhân vật có thật trong triều đình Đàng Ngoài để làm ví dụ, khiến lập luận trở nên cực kỳ cụ thể và khó bác bỏ].
[Phía Việt] bẩm rằng:
- Nhận được trát thị cho các Vương đại thần, tướng quân, đề đốc, sắp muốn hưng sư [động binh], Quốc vương thấy thế, đau lòng tự trách có tội gì, bèn dẫn đến việc dùng binh đánh dẹp [để tránh họa lớn hơn].
[Sứ thần] dụ bảo rằng:
- Người trí giả suy nghĩ, ắt phải tính đến cả lợi và hại. Hai sứ thần trên phụng mệnh triều đình, dưới vì kế sách xã tắc sinh linh nước các ngươi, thế cùng lực kiệt, lẽ nào nhịn im lặng, không nói hết lời? Nước các ngươi với Trung Quốc không ngang hàng, tội nhỏ không thể khoan thứ, tội lớn chỉ có thêm binh chinh thảo. Nước các ngươi vốn đã tự tiện đuổi bề tôi được mệnh lệnh [của triều đình], nếu còn chống trái mệnh triều đình, thể thống ở đâu? Không khuất phục được một nước An Nam, lấy gì để tỏ rõ uy tín với vạn quốc?
Thế tất phải đến chỗ dùng binh, chỉ cần Vân Nam, Lưỡng Quảng, cứ mười người rút một hai [tức huy động 10-20% quân số] [Thập trừu nhất nhị 十抽一二: Cứ mười người thì rút ra một hoặc hai người. Ám chỉ việc huy động một phần nhỏ quân dự bị từ các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. Sứ thần nhấn mạnh rằng nhà Thanh không cần huy động toàn lực, chỉ cần một phần nhỏ quân số biên giới cũng đủ để "nghiền nát" Đại Việt], sáng ra lệnh chiều đã đến, nước các ngươi sẽ tan thành tro bụi [Tề phấn 齏粉: Nghiền nát thành bột. Ám chỉ việc bị tiêu diệt hoàn toàn, không còn gì sót lại. Đây là lời đe dọa quân sự trực diện và tàn khốc nhất trong toàn bộ cuộc đàm phán]. Vạn nhất Hoàng thượng rộng lượng, không so đo lỗi của các ngươi, hoặc có thể có. Nhưng hãy nghĩ xem rốt cuộc sẽ xử trí Nguyên Thanh thế nào? Sẽ giết hắn ư? Sẽ đuổi hắn ư? Sẽ nuôi hắn lâu dài ở Nam Ninh ư? Ngoài Cao Bằng ra thì không có chỗ dung thân, không trả lại Cao Bằng, tuyệt đối không có lý do tạm dừng.
Ví như ngươi muốn giận dữ trách mắng một người, có ông lão đi qua, vì người đó mà xin tha, ngươi không những không tha, còn tiếp tục giận dữ trách mắng không thôi, ông lão ấy chịu bỏ đi, nhịn nhục thế là cùng chăng? Bạn bè còn có tình nghĩa, huống chi là quan hệ vua tôi. Các ngươi hãy thử nghĩ xem. ["Ông già". Trong ngữ cảnh này, nó ám chỉ một người trung gian, lớn tuổi, có uy tín đứng ra hòa giải. Sứ thần ví nhà Thanh như "ông lão" đứng ra xin tha cho Mạc Nguyên Thanh, nếu nhà Trịnh không nể mặt "ông lão" này thì là vô cùng thất lễ.]
Phụng mệnh vua, coi trọng sách lược của sứ thần trong việc an ủi Nguyên Thanh, chúng tôi chưa từng không than thở rằng: Vương tuy bề ngoài cung kính nhân ái, ban đầu không có ý coi nhẹ chiếu chỉ triều đình, nhưng trong thâm tâm ắt vẫn muốn diệt tuyệt dòng dõi họ Mạc [Diệt tuyệt dòng dõi 殄莫氏之遺: "Điền" 殄 nghĩa là diệt trừ, tiêu diệt tận gốc. Sứ thần vạch trần tâm lý thực sự của Chúa Trịnh: bề ngoài thì vâng lời, nhưng trong lòng vẫn muốn tận diệt họ Mạc]. Nhưng Bản viện [sứ bộ] chúng tôi đối với Nguyên Thanh có ân đức gì đâu [mà phải bênh vực hắn]? Tất cả chỉ là phụng hành mệnh lệnh của Thiên tử mà thôi.
[Sứ thần] nói:
- Quý quốc oán hận điều gì mà cứ rầy rà không dứt, nhất định phải nói hết lời mà không chịu thôi ư? Thực ra chiếu thư vốn lệnh cho trả lại đất đai, nhân dân Cao Bằng, nay tuy [triều đình] chọn đất khác để an trí [họ Mạc], đối với Vương đã không mất đi đức độ lớn, mà đối với [triều đình, cũng là một cách giải quyết ổn thỏa].
Lời gan ruột này, thực sự là vì sợ mang tiếng 'mưu tính cho người mà không trung thành'. Hai bức thư trước có phần sai lệch ý chỉ, tạm thời không bàn nữa. Vương hãy nhìn xa trông rộng, vượt ra khỏi tầm hiểu biết thông thường, một lời quyết đoán, lập tức trả lại Cao Bằng, y như cam kết đã đưa ra trước đây, đón gia quyến và tông tộc, thuộc hạ của Nguyên Thanh về an dưỡng. Như thế, lòng cung kính sẽ được tâu lên trên, đức nhân ái sẽ lan tỏa xuống dưới, may mắn thay, may mắn thay!
Hồ Sĩ Dương và những người khác xin được xem trước thư [hoặc chiếu chỉ], [sứ thần] đồng ý. Sau khi xem xong, họ lại xin gặp để tranh cãi gay gắt, do đó [sứ thần] lại dùng những lời lẽ trong dụ thiếp để đối đáp một phen. [Hồ Sĩ Dương胡士楊 đại diện cho phe chủ chiến, kiên quyết muốn tiêu diệt tàn dư nhà Mạc và rất bất mãn với sự can thiệp của nhà Thanh. Sự "ngạo mạn" của ông trong đoạn này phản ánh tâm lý thực tế của giới cầm quyền Đàng Ngoài lúc đó].
[Sứ thần tiếp tục răn đe]:
- Sự kiên định của triều đình như núi Thái Sơn, không thể lay chuyển. Các ngươi đừng hòng dùng lời lẽ sáo rỗng để lung lạc.
Hồ Sĩ Dương [hoặc quan lại phía Việt] nói:
- Hắn [Mạc Nguyên Thanh] bạo ngược với dân chúng, dân chúng tất sẽ đến kêu oan. Nếu nước tôi xuất binh [tiêu diệt hắn], e rằng bị triều đình trách tội; nếu không xuất binh, lại thương xót dân chúng phải chịu cảnh hãm hại của hắn, chi bằng an trí hắn ở nội địa (Trung Quốc) thì tốt hơn.
[Sứ thần] dụ bảo rằng:
- Lời này không ổn. Nếu hắn hại dân, dân phản lại hắn, thì cứ xem triều đình xử trí thế nào. Các ngươi đừng nghĩ rằng hôm nay đồng ý cho hắn [về Cao Bằng], là đang tạo lập một bước để sau này tiêu diệt hắn. Thuở xưa, Lê Quý Ly (Hồ Quý Ly) lừa giết Trần Thiên Bình, sau đó nước mất tộc diệt, đó không phải là chuyện đùa cợt đâu. [Lê Quý Ly trá sát Trần Thiên Bình黎季犁詐殺陳天平. Bối cảnh: Năm 1400, Hồ Quý Ly (bị sử sách gọi là Lê Quý Ly) cướp ngôi nhà Trần. Năm 1404, một hậu duệ nhà Trần là Trần Thiên Bình sang nhà Minh cầu viện. Minh Thành Tổ cử sứ thần hộ tống Trần Thiên Bình về nước. Tuy nhiên, Hồ Quý Ly đã phục kích và giết chết Trần Thiên Bình cùng sứ thần nhà Minh. Hành động này đã chọc giận nhà Minh, dẫn đến cuộc đại xâm lược của nhà Minh năm 1406, kết quả là "nước mất tộc diệt" (nhà Hồ bị tiêu diệt, Đại Việt bị nhà Minh đô hộ 20 năm). Sứ thần nhà Thanh đang cảnh cáo trực diện: Nếu các ngươi lừa gạt hoặc hãm hại Mạc Nguyên Thanh (người được nhà Thanh bảo hộ) giống như cách Hồ Quý Ly đã làm với Trần Thiên Bình, nhà Thanh sẽ phát binh trừng phạt và xóa sổ các ngươi, giống như nhà Minh đã làm].
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Hồ Sĩ Dương và những người khác nói năng rất ngạo mạn, đại ý rằng:
- Bản phúc đáp đã viết rất thống thiết, lâm ly, triều đình [nhà Thanh] xem thấy, tất sẽ cảm động mà nghe theo, [chúng tôi] thấy lập luận của các ông thật buồn cười.
Sau đó lại nói:
- Quốc vương không có ý kiến nào khác.
Phó sứ [Dương Triệu Kiệt] nổi giận nói:
- Kẻ làm hỏng việc An Nam chính là Sĩ Dương, đáng lẽ phải đánh cho một trận đau trước, sau đó xin chỉ dụ đem ra chính pháp, vì An Nam mà trừ khử lão tặc (tên giặc già) này. [Lão tặc 老賊: Tên giặc già. Đây là một lời sỉ nhục nặng nề. Việc Phó sứ Dương Triệu Kiệt lớn tiếng đòi "đánh cho một trận" và "xin chỉ dụ chính pháp" Hồ Sĩ Dương cho thấy cuộc đàm phán đã chạm đến giới hạn chịu đựng của sứ bộ, và họ không còn giữ lễ nghi ngoại giao nữa].
Chánh sứ [Lý Tiên Căn] nói:
- Bản viện (chúng ta) viết thư phúc đáp cho Quốc vương của các ngươi, các ngươi tự nhiên phải mang về bẩm báo cho Vương, cớ sao lại dám ngang ngược vô lễ ngay từ đầu? Các ngươi có nắm chắc được rằng Quốc vương của các ngươi rốt cuộc không có ý kiến nào khác hay không? Đã như vậy, thư phúc đáp của ta cũng không phát nữa.
Bấy giờ, các quan lại [người Việt] cố nài xin lấy được thư phúc đáp rồi mới chịu ra về. [Chánh sứ & Phó sứ 正使 & 副使: Tức Lý Tiên Căn (Chánh sứ) và Dương Triệu Kiệt (Phó sứ). Đoạn này cho thấy sự phân vai rõ ràng: Phó sứ đóng vai "ác nhân" (đe dọa, mắng chửi), còn Chánh sứ đóng vai "người nắm giữ con tin" (giữ thư phúc đáp, đe dọa không giao thư) để gây áp lực tâm lý.]
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Ngày 22, thư phúc đáp của vua Lê gửi đến, quả nhiên đúng như lời Hồ Sĩ Dương và những người khác đã nói, vẫn muốn đem bản tấu trước nhờ [sứ bộ] mang vào [triều đình Thanh], và xin được mang theo tờ thề ước giữa Mạc Nguyên Thanh và Quang Trạch Vương. [Sứ thần] lập tức nghiêm lệnh thông ngôn, nhanh chóng chuẩn bị phu mã (người khuân vác và ngựa xe), rồi thăng đường ngồi ở công đường, phát thẻ bài, định ngày 24 sẽ khởi hành, giao việc chuẩn bị cho Đồng Tồn Trạch. Tồn Trạch và những người khác sợ hãi, không dám đưa đi, phải qua sông bẩm báo với Chúa [Trịnh].
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
1780929965101.png

Các quan nhà Lê-Trịnh và sứ thần tranh cãi quyết liệt
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
Trong hai ngày (23 và 24), Chánh sứ và Phó sứ vô cùng giận dữ. Phan Kiêm Toàn, Hồ Sĩ Dương và những người khác xin được yết kiến [Phan Kiêm Toàn 潘兼全 & Hồ Sĩ Dương 胡士楊: Các quan lại chủ chiến, cứng rắn của phủ Chúa Trịnh. Việc họ bị sứ thần từ chối gặp mặt và đe dọa "lấy đầu" cho thấy mức độ căng thẳng đã lên đến đỉnh điểm], nhưng không được cho phép, sứ thần còn ra lệnh:
- Lấy đầu bọn chúng đến đây!
Toàn và những người kia vội vã muốn gặp mà không được vào, bèn nhờ quan tiền trạm chuyển một tờ bẩm thiếp rằng:
'Vừa rồi nghe những lời quở trách nặng nề, trong lòng u uất, có điều chưa giãi bày được. Vả lại, bàn luận việc sứ bộ An Nam, qua lại mong cầu sự vẹn toàn rồi mới hành động, lời nói qua lại có đáng gì phải bận tâm. Chỉ mong hai vị đại nhân dưới uy nghiêm 'sấm sét sương giá' [Tử điện thanh sương 紫電清霜: "Tử Điện" và "Thanh Sương" là tên hai thanh kiếm báu thời cổ, tượng trưng cho uy quyền sắc bén, nghiêm minh và lạnh lùng], vẫn có sự ấm áp của 'gió xuân hòa khí' [Xuân phong hòa khí 春風和氣: Gió xuân khí hòa, ám chỉ sự ôn hòa, mềm mỏng, ân cần. Sứ thần yêu cầu đối phương phải dùng thái độ này để đối đãi, chứ không được dùng thủ đoạn gây hấn], đối đãi hòa bình, ban cho lời lẽ và sắc mặt dễ chịu, dùng sự công bằng để phán đoán, chọn điều có thể thi hành. Xin truyền dặn cho mọi người, để chúng tôi được về bẩm báo lại với Quốc vương.'
[Sứ thần] ra lệnh đáp lại:
- Dù các ngươi có chất vàng như núi để mua chuộc ta, hay dùng dao, cưa, vạc dầu để dọa nạt ta, bắt ta mang bản tấu này đi, thì thà rằng ta chịu hình phạt của triều đình, còn hơn nghe theo sự chia rẽ của nước các ngươi [Đao cứ đỉnh hoạc 刀鋸鼎鑊: Dao, cưa, vạc dầu sôi. Các hình cụ tra tấn và tử hình tàn khốc thời cổ. Sứ thần dùng cụm từ này để thể hiện sự bất khuất: Ta thà chịu chết đau đớn còn hơn làm sai mệnh vua]. Nếu cấp cho ta phu mã, ta sẽ vào ải [về nước]. Nếu không cấp phu mã, ta cũng mặc kệ các ngươi, giết ta cũng được, giữ ta lại cũng được, đem ta ra bỏ ở bờ biển như Tô Vũ mười chín năm, cũng chẳng sao.
[Phía Việt] bẩm rằng:
- Nước nhỏ sao dám làm vậy, chỉ là muốn giữ hai vị đại nhân ở lại bàn bạc cho thật ổn thỏa, rồi mới có thể khởi hành.
[Sứ thần] dụ bảo rằng:
- Ổn thỏa hay không, ta chỉ biết rằng trả lại Cao Bằng mới là điều phải nói. Còn những lời lẽ khác đều là vô nghĩa. Nếu không trả Cao Bằng, ta quyết không rời bước, dù có chết ở đây cũng cam lòng.
[Sứ thần nói]:
- Nếu [các ngươi] phải chịu họa lớn, chúng ta rất lấy làm thương xót. Nhưng nếu chúng ta hết sức cứu vãn mà không được, thần linh cũng không phù trợ, thì [các ngươi] còn mặt mũi nào mà nhận lễ tế của chúng tôi nữa? Bắt buộc phải đợi đến khi thần linh thầm lặng khai mở tâm trí cho nước các ngươi, khiến lòng dạ quay về với sự giáo hóa, tuân theo chiếu chỉ, thì lúc đó tôi mới không tiếc chút phí tổn nhỏ, và ngay cả thần linh khi nhận lễ cũng không cảm thấy hổ thẹn.
Ngày 25, vua Lê có thư phúc đáp, trong đó xưng rằng:
'Đất đai của tổ tiên, nay đã thu hồi, lại đem cho người khác, còn gì nhục nhã hơn thế! Lý do không nỡ lòng trả lại chính là vì vậy. Nay xin [được giữ lại va xin đàm phán tại] phủ Cao Bằng...' [đại ý phía Lê vẫn kiên quyết không trả đất vì lý do tổ tiên].
[Sứ thần] dụ bảo rằng:
- Bản viện (Bản bộ) phụng mệnh mà đến, chỉ biết có chiếu chỉ trả lại đất đai, nhân dân Cao Bằng, không biết chuyện khác. Nếu không trả lại một tấc đất, không trả lại một người dân, thì đều bị coi là trái chiếu chỉ [nguyên văn: Bệ chỉ 悖㫖; Bệ" 悖 là trái ngược, chống đối; "chỉ" 㫖 là chiếu chỉ, mệnh lệnh của vua. "Bệ chỉ" là một tội danh cực kỳ nặng trong ngoại giao, đồng nghĩa với việc công khai chống lại Hoàng đế, và là cái cớ hợp pháp để phát binh]. Bất luận quý quốc khó ăn nói, biện bạch thế nào, thì Bản viện khi về triều bệ kiến sẽ đối đáp ra sao? Đi sứ mà không có công hòa giải, khi về lại phải chịu tội trái chiếu chỉ, có được không? Không được! [Mặc dũ 默牖: "Mặc" là thầm lặng, "dũ" 牖 là cửa sổ, nghĩa bóng là khai mở, soi sáng. "Mặc dũ" nghĩa là thần linh thầm lặng khai sáng tâm trí, giác ngộ. Sứ thần dùng từ này để ám chỉ rằng sự ngoan cố hiện tại của nhà Lê là do "chưa được thần linh khai sáng".]
Hơn nữa, Vương nói rằng đã thu hồi rồi lại đem cho người khác đó là hành vi chống đối, nghịch lại. Cho nên, phụng mệnh mà không trọn vẹn, cũng giống như không phụng mệnh, chi bằng phụng mệnh cho trọn vẹn thì mới là đắc sách. Vả lại, phụng mệnh sau khi bàn bạc qua lại, do dự, không bằng phụng mệnh một cách sảng khoái [Sảng khoái độc đoán 爽慨獨斷: "Sảng khoái" là rộng rãi, dứt khoát; "độc đoán" ở đây không mang nghĩa tiêu cực như hiện nay, mà có nghĩa là "tự mình quyết đoán, không do dự". Sứ thần dùng từ này để vẽ ra một viễn cảnh "giữ thể diện" cho vua Lê: hãy quyết định nhanh chóng và hào phóng, đừng để bị coi là kẻ do dự, hẹp hòi], quyết đoán ngay từ đầu mới là tận thiện tận mỹ.
Vương nếu thực lòng hứa khả, một lời quyết đoán, khiến triều đình biết Vương phụng mệnh chu toàn và nhanh chóng như vậy, thì ân trạch [của Hoàng đế] ban xuống há có giới hạn sao! Chúng tôi đã kéo dài nhiều ngày, sớm tối khó yên. Triều đình [nhà Thanh] đến đòi, các ngươi sẽ lấy gì để đối phó? Nay các ngươi đừng nói là trả lại Cao Bằng thì coi như thua ván cờ này. Mạc Nguyên Thanh đã bại vong thê thảm như vậy, dù hắn có trở về, có giữ được đất hay không cũng chưa biết. Nay ta khuyên các ngươi hãy tạm thời trả lại hắn một quân 'Xe' [trả lại một quân "Xe" 還他一個車: Điển cố từ cờ tướng. Quân "Xe" là quân cờ mạnh nhất. Sứ thần dùng phép ẩn dụ này để hạ thấp giá trị của Cao Bằng trong mắt nhà Lê-Trịnh: Hãy coi việc trả Cao Bằng như hy sinh một quân cờ để đổi lấy sự bình yên của cả bàn cờ (đất nước), chứ không phải là sự thất bại nhục nhã] lượng hắn cũng chẳng phải là đối thủ, cớ sao lại cố chấp đến vậy?
Sau đó, (sứ thần) lại gọi thông ngôn đến trước mặt, dụ bảo rằng:
- Chúng ta thành công cũng chẳng có thưởng lớn, không thành công cũng chẳng có tội nặng, được mất nào có liên quan gì đến ta? Chỉ là vì mưu tính kế sách trị an cho nước các ngươi, nên mới nói nhiều lời như vậy. Giả sử là người khác, chỉ cần lo xong việc của họ, chẳng thèm đoái hoài gì đến sự sống chết của các ngươi, mặc kệ các ngươi mang bản tấu [chống đối] về, họ cũng mặc kệ.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
[Sứ thần ghi chép trong hồi ký]:
“Tra xét không có manh mối, chỉ dựa vào lời 'trả lại Cao Bằng' trong chiếu thư, mà đất đai cụ thể thuộc về Cao Bằng cũng mù mịt. Do đó phải bí mật đi thám thính, mới biết [Cao Bằng] chỉ gồm bốn châu này, nhưng vẫn chưa chắc chắn, nên phải dùng lời lẽ đe dọa (khủng bố tinh thần), khiến người man di tự khai ra sự thật. [Tứ châu 四州: Ám chỉ 4 châu thuộc phủ Cao Bằng thời đó (thường được ghi nhận là Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang và Thạch Lâm). Đây là một chi tiết lịch sử cực kỳ quan trọng, cho thấy sứ thần nhà Thanh ban đầu không nắm rõ địa lý biên giới Đại Việt, mà phải dùng biện pháp "thám thính" và "đe dọa" để ép quan lại địa phương khai ra ranh giới chính xác]. [Động nghi khủng hách 恫疑恐喝: Đe dọa, hù dọa về mặt tinh thần. Sứ thần thẳng thắn thừa nhận trong hồi ký rằng họ đã dùng chiến thuật "bluff" (đánh bluff/đe dọa suông) để moi thông tin về ranh giới đất đai từ phía An Nam.]
Lúc này, Hồ Sĩ Dương lại xin gặp, [sứ thần] đồng ý, dụ bảo rằng:
- Vua các ngươi muốn giữ lại ba châu, ta không quản các ngươi giữ ba châu hay năm châu, chỉ là đất đai thuộc về Cao Bằng, các ngươi thiếu hắn một tấc một phân cũng không được. Từ ngày nhận mệnh, ta đã tính toán toàn bộ ván cờ này. Ta hiểu rõ ý đức hiếu sinh của Hoàng thượng, chắc chắn có mưu tính lâu dài cho biên cương trong ngoài, quyết không để Nguyên Thanh gây hấn, tự rước họa vào thân. Nay bản bộ trở về Ung Châu [Hồi Ung 回邕: Trở về phủ Nam Ninh (xưa gọi là Ung Châu). Đây là trụ sở của Tuần phủ Quảng Tây, nơi sứ bộ sẽ báo cáo kết quả và thực hiện các bước tiếp theo để kiểm soát Mạc Nguyên Thanh], tất sẽ tuyên bố hoàng ân, khiến hắn yên phận giữ mình, đồng thời đem lòng bao dung đến cùng của quý quốc mà răn dạy Nguyên Thanh, hắn sao có thể làm ngơ không nghe theo?
Còn về bản thảo hồi tấu, cùng việc giao trả nhân dân, và trình tự hành động sau này, đã bàn bạc chắc chắn với quan lại của các ngươi, không cần phải thay đổi nữa. Những ai đã bị bắt cóc, cướp bóc, cứ để Nguyên Thanh sẽ trả lại hoặc xử lý theo thỏa thuận.
 

doctor76

Xe ngựa
Người OF
Biển số
OF-81790
Ngày cấp bằng
3/1/11
Số km
26,647
Động cơ
724,866 Mã lực
Nơi ở
Sơn La
AN NAM SỬ SỰ KỶ YẾU QUYỂN 4 安南使事紀要卷之四
Ngày mùng 2 tháng 3, Phan Kiêm Toàn潘兼全 và những người khác mang bản thảo phúc đáp đến để xem xét. Bản thảo này sao chép những luận điệu cũ, lặp đi lặp lại, lan man, kể lể tỉ mỉ về công lao nhiều đời của họ Trịnh, nhưng tuyệt nhiên không hề nói rõ việc trả lại đất đai, nhân dân. Chánh sứ vô cùng giận dữ, lập tức ném trả lại yêu cầu sửa đổi. Sau đó, dặn Phó sứ truyền đạt rất kỹ lưỡng về thể thức bắt buộc của bản phúc đáp. Toàn và những người kia ngu muội cố chấp, không hiểu, chỉ nói rằng:
- Đã ngụ ý (ám chỉ) trong hai chữ Tuân chỉ 遵㫖.
Sứ thần truyền dụ rằng:
- Hai chữ ngụ ý, há có thể dùng để đối đáp với Thiên tử được sao?'
Rồi phê vào cuối tờ trình:
'Xem kỹ tờ trình của các ngươi, đầy miệng là lời lẽ man di [Man diên 蠻涎: "Man" là man di, "diên" là nước dãi. "Mãn khẩu man diên" (đầy miệng là nước dãi man di) là một cách nói cực kỳ miệt thị của sứ thần nhà Thanh, ám chỉ những lập luận của quan lại Đại Việt là vô lý, thiếu văn hóa và ngớ ngẩn], thứ tự điên đảo, Bản viện lấy gì để phục mệnh? Nay ta lệnh cho các ngươi sửa đổi, các ngươi lại nhiều bề chống trái, thật có thể gọi là không biết sợ pháp luật [Bất úy tam xích 不畏三尺: "Tam xích" (ba thước) ám chỉ thẻ tre dài ba thước dùng để ghi chép pháp luật thời cổ (Tam xích pháp). "Không sợ ba thước" nghĩa là coi thường pháp luật, ngang ngược không sợ uy quyền của triều đình] rồi. Phải nhanh chóng viết rõ ràng, tường tận về giới hạn đất đai Cao Bằng của ta, việc giữ lại hay đưa đi của nhân dân, cùng văn bản rút quân đồn trú, khẩn cấp dụ bảo các đầu mục ở Cao Bằng yên lặng nghe theo sự an trí, quản lý của Nguyên Thanh.'
Sáng sớm ngày mùng 3, [sứ thần] cùng bàn bạc:
- Việc này về cơ bản đã thành, chỉ có điều bản phúc đáp này liên quan đến thể diện quốc gia, trong đó có rất nhiều điều sai lầm, ngớ ngẩn. Vạn nhất bọn man di cuối cùng vẫn mê muội không ngộ ra, không hợp với Thánh tâm, thì công sức trước đây sẽ đổ sông đổ bể. Nếu có thể cắt bỏ đi hai ba chỗ [sai sót], sao cho không quá chướng mắt, cũng là đủ rồi. Tuy nhiên, nếu không truyền đạt ý này trực tiếp cho Trịnh Tạc, thì chưa dễ phá vỡ sự gian ngoan cố chấp của bọn Phan Kiêm Toàn.
Đại để nước ấy coi những kẻ có thể lớn tiếng tranh cãi giành phần thắng là có công, lại còn phái người thân tín đi theo giám sát các quan lại tiếp xúc với sứ bộ ra vào, nên các quan này không màng đến nghĩa lý, thị phi, cứ dựa vào ý kiến chủ quan mà nói càn, đôi khi còn cười cợt để tỏ ra không hề sợ hãi. Ấy là vì họ muốn những người thân tín kia báo cáo lại với Quốc vương và người phụ chính, để chứng tỏ mình đã làm tròn chức trách. Mỗi khi lý lẽ cùn cụt, họ chưa từng không tự biết mình sai, nhưng thực sự không thể tự kìm chế được [vẫn cứ cố cãi].
Vì vậy, [sứ thần] làm thư dụ bảo Trịnh Tạc rằng:
'Hôm qua xem xét bản phúc đáp, rốt cuộc cũng chẳng khác gì bản chương đầu tiên. Đáng lẽ ta nên đem lòng thành thảo ra đại khái, lệnh cho triều quan là Phan Kiêm Toàn, Hồ Sĩ Dương chép lại để xem xét, rồi thêm bớt. Thế mà hai người kia kiên quyết cố chấp, không chịu sửa đổi cho đến tận đêm.
Bản viện suy nghĩ kỹ rằng: “Quốc vương và Nhân Hiếu [Chúa Trịnh] đã khảng khái tuân chỉ trả lại đất đai, nhân dân Cao Bằng rồi, thì trong bản chương phúc mệnh, có khó gì đâu khi dùng lời lẽ uyển chuyển, cung thuận, mà nhất định phải ồn ào, mâu thuẫn [Hiểu hiêu ngữ ngu 曉嘵齟齬: "Hiểu hiêu" 哓哓 là tiếng kêu la ồn ào, tranh cãi không ngừng. "Ngữ ngu" 龃龉 nghĩa là răng trên và răng dưới không khớp nhau, ám chỉ sự mâu thuẫn, chống đối, không ăn khớp] như vậy? Phụng chỉ trả lại đất đai Cao Bằng, mà trong sớ không có chữ 'trả lại đất đai'. Lại phụng chỉ trả lại nhân dân Cao Bằng, mà trong sớ không có chữ 'trả lại nhân dân'. Lấy cái này mà lừa gạt trẻ con ba thước [Tam xích đồng 三尺童: Trẻ con cao ba thước. Ám chỉ một đứa trẻ rất nhỏ, ngây thơ. Sứ thần dùng điển cố này để mỉa mai: Sự gian dối trong văn bản của các ngươi quá thô thiển, ngay cả trẻ con cũng nhìn thấu, huống hồ là Thiên triều] còn không xong huống hồ là lừa dối Thiên tử và đùa giỡn với sứ thần của Thiên triều?
Hồ Sĩ Dương nói:
- Đã ngụ ý (ám chỉ) trong hai chữ Tuân chỉ 遵㫖 rồi.
[Sứ thần] đáp:
- Phàm đạo làm bề tôi đối với quân phụ, dù bày tỏ trắng đen rõ ràng còn lo lòng thành kính chưa đủ để thấu đạt lên trên, huống hồ lại chỉ dám dùng hai chữ 'ngụ ý' mơ hồ như vậy? Điều này mang hàm ý 'vô tương' [Vô tương 無將: Xuất xứ từ Kinh Xuân Thu (Công Dương truyện): "Quân tử đại cư chính, vô tương dã" (Quân tử giữ đạo chính, không có tâm địa phản nghịch). Ở đây, sứ thần cảnh cáo rằng việc dùng từ "ngụ ý" mơ hồ thay vì tuyên bố rõ ràng việc tuân chỉ, là một hành vi có dấu hiệu của sự bất kính, thậm chí là manh tâm phản nghịch đối với Thiên tử], tấm lòng một dạ trung thành, há có thể không thận trọng hay sao?
Vả lại, lòng trung thành cần mẫn phò tá của Nhân Hiếu [Chúa Trịnh], trong triều đình Trung Quốc và quý quốc, ai mà không biết? Thế mà trong bản sớ lại sao chép [những điều trái ngược] cũ kỹ, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đứng trên lập trường của quý quốc mà nói, thì cho rằng đó là vua Lê biểu dương công lao trung thành của Nhân Hiếu; nhưng dưới con mắt của triều đình, thì lại bị coi là kẻ cầm bút đang nịnh bợ quyền thần. Như vậy, danh là đề cao cái đẹp của Nhân Hiếu, nhưng thực chất lại làm tổn hại đến danh tiếng của Nhân Hiếu. Điều này đối với Nhân Hiếu đặc biệt bất lợi.
Cho nên hôm qua Bản viện đã sửa vài câu, đại ý đã bao quát đầy đủ, thế mà Hồ Sĩ Dương đều làm như không thấy không nghe, chỉ muốn cứng nhắc chép lại bản gốc. Vả lại, đất đai nhân dân Cao Bằng đã trả rồi, thì bản sớ viết hay hay dở có liên quan gì? Chỉ có điều lời lẽ trong đó úp mở, cách biệt, lải nhải, Bản viện chúng tôi đọc thấy còn chán nản nghi ngờ, huống hồ là dâng lên Ngự lãm, lẽ nào Hoàng thượng lại có sắc mặt vui vẻ hay sao?
Như vậy là lấy lời lẽ nông cạn, sai lầm của các bầy tôi để che lấp đi ý tốt kính cẩn tuân theo của Vương và Nhân Hiếu, thì Bản viện chúng tôi lấy gì để khéo léo truyền đạt tiết nghĩa cung thuận và lòng thành bảo vệ xã tắc của Vương cùng Nhân Hiếu chứ?
 
Thông tin thớt
Đang tải

Bài viết mới

Top