Chậc, làm một hớp cắt tiết mát lạnh trong cái nắng hanh hao với sự vuốt ve mơn trớn của nàng Thu, cho Thỏ chém tí mua vui.
Triết học không gian phương Đông – đặc biệt là tư tưởng Tam giáo đồng nguyên (Nho - Phật - Đạo) thấm sâu vào cấu trúc Thăng Long - Hà Nội – lại vận hành dựa trên nguyên lý "Thiên Nhân Hợp Nhất" (Con người và Tự nhiên hòa làm một) và tinh thần "Nhu thắng Cương, Tĩnh thắng Động" của Lão - Trang. Ở đó, con người không tìm cách dùng kiến trúc để chinh phục hay chế ngự tự nhiên, mà tìm cách ẩn mình, hòa quyện và đối thoại dịu dàng với đất trời.
Huyền thoại và bản thể luận của Hồ Hoàn Kiếm chính là sự kết tinh trọn vẹn nhất của triết lý sống ấy. Văn hóa Việt Nam là văn hóa lúa nước, gắn bó máu thịt với đất mùn, nguồn nước và sự sinh trưởng dịu dàng. Người Việt từ ngàn xưa không có khát vọng đi chinh phạt, không coi việc mở rộng lãnh thổ bằng bạo lực là thước đo của sự vĩ đại. Chiến tranh chỉ là một thảm họa bất đắc dĩ phải gánh chịu để bảo vệ sự sống. Thanh bảo kiếm Thuận Thiên trong huyền thoại Lê Lợi không do con người tự đúc để xưng hùng xưng bá, mà là thanh kiếm được Rùa Vàng – hiện thân của thần linh sông núi – cho mượn khi đất nước lâm nguy. "Thuận Thiên" là thuận theo lẽ trời, thuận theo lòng dân.
Cái rất hay tạo nên nét lãng mạn cùng chiều sâu nhân của tâm hồn Việt chính là hành động Trả Gươm. Khi bóng giặc đã sạch, Vua Lê Thái Tổ cưỡi thuyền rồng trên hồ Tả Vọng và trao lại thanh gươm báu cho Rùa Vàng.
Hành động trả gươm là một tuyên ngôn triết học : Vũ lực chỉ là phương tiện bất đắc dĩ; khi hòa bình đã đạt được, vũ khí phải lập tức được gạt bỏ, cất giấu vào lòng nước thâm thẫm để đất nước trở lại trạng thái nhu hòa, dưỡng dân và sinh trưởng. Và hình như cái nền tảng triết học này cũng đã được bộc lộ, thể hiện qua nhiều tác phẩm,ca khúc khá hay. Thỏ mang máng nhớ có câu " Đời người ai cũng thích hoa hồng. Kẻ thù buộc ta ôm cây súng" trong 1 khúc tráng ca cũng như có câu thơ " ..... vứt súng, gươm Ta lại hiền nhiw xưa".
Hồ Hoàn Kiếm, vì thế, chính là một LÃNH ĐỊA CỦA SỰ BUÔNG BỎ VŨ LỰC, nơi tôn vinh cái Tĩnh thay vì cái Động, tôn vinh sự tan biến bạo lực để trở về với nhịp đập bình dị của đời sống.
Chính từ chiều sâu triết học này mà trong tâm thức dân gian Việt Nam mới hình thành nên sự minh triết : "Quanh Hồ Gươm không bàn chuyện vua Lê". Người ta không bàn chuyện cá nhân một vị vua, không dựng đài ngợi ca riêng một triều đại hay một chiến công quân sự ngay bên bờ hồ, bởi vì khi thanh gươm được trả lại cho lòng nước, hành động của Vua Lê đã triệt tiêu cái Tôi vương quyền, trả vinh quang về cho Trời, Đất và Toàn dân. Cái Hồ vượt thoát khỏi sở hữu của triều đình phong kiến để trở thành không gian dân chủ và linh thiêng chung của nhân dân. Mặt nước xanh ngọc bích của Hồ Gươm là chiếc màng lọc xóa tan mọi sự ngạo mạn của quyền lực. Người dân đến quanh Hồ Gươm không phải để cúi đầu trước uy quyền đè đè của tượng đài, mà để tìm lại sự thư thái, hòa mình vào thiên nhiên. Sự thu hoạch tối cao của một chiến thắng đối với người Việt không phải là những bức tường đá ghi danh chém giết, mà là nụ cười bình yên của người bán rau, kẻ lãng du và tiếng trẻ thơ reo hò dưới bóng cây lộc vừng.
Chính cái phông văn hóa ấy phản chiếu trực tiếp lên toàn bộ thực thể kiến trúc - cảnh quan của Hồ Hoàn Kiếm, vốn mang đặc tính cân bằng sinh thái tâm linh "Thủy - Thổ - Mộc". Các công trình hiện hữu quanh hồ như Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn, Cầu Thê Húc, Tháp Bút, Đài Nghiên không tồn tại để áp đảo con người hay nuốt chửng không gian. Chúng là những nét chấm phá " điểm diện, điểm danh", vô cùng nhún nhường, khiêm toons nhỏ nhắn, được cài cắm vào thiên nhiên một cách hữu cơ vốn như tính cách của người Hà nội
Quay lại vấn đề Khải Hoàn Môn, nếu đưa một khối đá Khải Hoàn Môn đồ sộ, cứng nhắc và ngạo mạn mang tính chất " Vĩ ĐẠI" vào lòng Hồ Hoàn Kiếm, tính chất mềm mại, thơ mộng và vi diệu của cảnh quan sinh thái - tâm linh xung quanh sẽ ngay lập tức bị xé nát. Khải Hoàn Môn sẽ trở thành một "vật ký sinh" thô bao, tàn phá hoàn toàn tỷ lệ nhân hoa vốn là linh hồn của Hà Nội xưa.
Nó sẽ cưỡng bức mà nếu nói tếu táo hình tượng là " Cưỡng hiếp" khi đặt một biểu tượng của bạo lực, của sự phô trương uy quyền và sùng bái chiến thắng quân sự vào đúng không gian được sinh ra để cất giấu gươm dao và tôn vinh hòa bình. Sự ghép nối khiên cưỡng giữa hai vũ trụ quan đối lập ấy không chỉ làm đứt gãy mạch chảy văn hóa ngàn năm của Thăng Long xưa- Hà nội nay , mà còn mỉa mai sự nông nổi, nghèo nhàu về mặt triết lý và sự mù xòa trước các giá trị di sản của thế hệ tạo ra nó.
Khải Hoàn Môn bắt con người phải ngước nhìn và khiếp sợ trước uy quyền; Cổng Việt Nam đón nhận con người vào lòng, mang lại sự bình yên và thức tỉnh tâm linh.
Tâm hồn Việt Nam là tâm hồn của một dân tộc đã trải qua quá nhiều đau thương chiến tranh, nên quý trọng từng phút giây hòa bình. Người Việt không tìm thấy niềm vui trong sự phô trương chiến công bằng gạch đá đồ sộ. Việc gượng ép cấy ghép cưỡng bức một cấu trúc kiến trúc mang đậm tư duy chinh phục phương Tây vào lãnh địa tâm linh, cảnh quan hữu cơ của Hồ Hoàn Kiếm vì thế không chỉ là một sự mù xòa về hình thái học đô thị, mà còn là một hành vi xâm phạm tàn nhẫn vào cấu trúc văn hóa, triết học và tâm hồn của người Hà Nội nói riêng và người Việt nói chung.