Bài viết này hơi dài nhưng hay, trích FB Trọng Nghĩa:
NGUYỄN THÀNH NAM ĐỐI THOẠI VỚI LỊCH SỬ HAY LÀ LỘNG NGÔN VỚI LỊCH SỬ?

︎ Trọng Nghĩa – Phường Cao Lãnh
Thưa ông Nguyễn Thành Nam,
Tôi viết mấy dòng này như một cuộc đối thoại trên mạng xã hội. Không phải là thứ đối thoại trên sân khấu ra mắt sách hôm rồi của ông, có người vỗ tay, có người hát, có ánh đèn, có lời giới thiệu mềm mại, có những câu chữ được bọc trong lớp giấy bóng của “cách tiếp cận mới”. Đây là cuộc đối thoại của một người dân bình thường với một người cầm bút đã viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng một giọng văn khiến tôi không thể làm thinh được.
Tôi không viết để hơn thua câu chữ với ông chi. Tôi viết vì những đoạn trong cuốn "Chuyện với Thanh" mà nhiều người gửi cho tôi đã làm tôi thấy bất bình. Bất bình vì ông dám viết về Bác theo cách quá lộng ngôn, lộng hành. Với tôi, lịch sử, nếu nghiên cứu nghiêm túc, thì vẫn rất cần những cách tiếp cận sinh động hơn, gần gũi hơn, mở ra hướng nghĩ mới hơn. Nhưng sinh động không có nghĩa là phải suồng sã; ngôn từ gần gũi cũng không có nghĩa là tầm thường hóa Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và cái gọi là “lời kể mới” càng không thể là cái cớ để làm nhòe nhoẹt đi tầm vóc của một lãnh tụ đã hiến trọn đời mình cho dân tộc Việt Nam.
Thưa ông Nam,
Ông có thể nói rằng ông viết bằng tâm thế đối thoại với sinh viên, muốn kéo lịch sử ra khỏi sự khô cứng, muốn người trẻ “đặt câu hỏi” để có “tư duy phản biện”. Tôi không phản đối những điều ấy. Nhưng tôi hỏi ông là... đặt câu hỏi để làm sáng tỏ lịch sử, hay đặt câu hỏi để làm lung lay những giá trị đã được lịch sử kiểm chứng? Đối thoại để hiểu sâu sắc hơn, hay đối thoại để biến sự thật lịch sử thành trò tranh luận tương đối? Làm lịch sử gần hơn với giới trẻ, hay hạ bệ lãnh tụ cho vừa với khẩu vị của một thứ ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ startup, ngôn ngữ bàn trà?
Trong sách, ông gọi hành trình Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước là “đi phượt”. Ông gọi công việc phụ bếp trên tàu của Bác là “job”. Ông nói về những năm tháng bôn ba bằng những câu chữ như “lang thang không nghề nghiệp”, “không có chỗ ở cố định”. Ông viết việc học lý luận, dịch tác phẩm của Marx và Lenin như một thứ “giáo án khô khốc”, thậm chí là “một cực hình”. Ông còn dùng những cách nói như “điếu đóm”, “nghề cu li”, “nghề người rơm”, “trai quê mùa”… để nói về Hồ Chí Minh.
Thưa ông, một chữ dùng sai có thể là vô ý. Hai chữ có thể là vụng về. Nhưng cả một hệ thống chữ nghĩa cứ lặp đi lặp lại theo hướng hạ thấp hình tượng Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thì không còn là vô ý nữa. Nó thành một thủ pháp với đầy thâm ý. Mà thủ pháp ấy, dù ông có tự nhận là “làm mới” hay “đối thoại” đi nữa, vẫn có tác dụng rất rõ, đó là làm cho người đọc trẻ nhìn hành trình cứu nước của Người như một cuộc phiêu lưu cá nhân hơn là một sự lựa chọn lịch sử; nhìn sự bôn ba cách mạng như một chuỗi trải nghiệm đời thường; nhìn lý luận cách mạng như một gánh nặng khô khốc; nhìn Cách mạng Tháng Tám như một cuộc tranh đoạt chính quyền. Đó là điều tôi phản đối.
Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng ngày 5 tháng 6 năm 1911 (ngày hôm nay là 115 năm) không phải để “đi phượt”, thưa ông. Người ra đi trong cảnh đất nước bị thực dân đô hộ, nhân dân bị áp bức, các phong trào yêu nước của tiền bối đang lần lượt gặp bế tắc. Một thanh niên như Người ra đi trong bối cảnh ấy không phải để săn tìm trải nghiệm. Người ra đi với nỗi đau của một dân tộc mất nước. Người ra đi để tìm câu trả lời mà cả thời đại đang khắc khoải, đó là làm sao cho nước Việt Nam được độc lập, dân Việt Nam được tự do, đồng bào Việt Nam thoát khỏi kiếp lầm than.
Một chuyến “phượt” là đi để vui, để thử mình, để tìm cảm giác mới. Còn hành trình của Nguyễn Tất Thành là đi để tìm đường cứu nước. Giữa hai điều ấy là khoảng cách của đạo lý, của lịch sử, của máu và nước mắt. Nếu ông không thấy khoảng cách đó, thì sự “làm mới” của ông không phải là sáng tạo, mà là sự bất nhân trước nỗi đau của dân tộc.
Ông có thể biện minh rằng Bác cũng là con người, cũng có đời thường, cũng có va vấp, cũng có thử nghiệm, cũng có những khúc quanh chưa ai biết hết. Vâng, Bác là con người. Nhưng Bác là con người đã hóa thân vào vận mệnh dân tộc. Bác giản dị, nhưng không tầm thường. Bác gần gũi, nhưng không thể bị diễn đạt một cách suồng sã. Bác là con người bằng xương bằng thịt, nhưng chính con người ấy đã trở thành biểu tượng của khát vọng độc lập, tự do và phẩm giá Việt Nam.
Lấy cái “đời thường” để soi cho ta hiểu thêm nhân cách lớn là việc nên làm. Nhưng lấy cái “đời thường” để kéo nhân cách lớn xuống ngang với sự tán chuyện lông bông thì không còn là nghiên cứu nữa đâu. Đó là hạ thấp. Đó là làm mờ nhạt. Đó là gặm nhấm, làm hao mòn sự tôn kính lãnh tụ từng chút một bằng sự... suy diễn vô căn cứ.
Thưa ông Nam,
Văn kiện và quan điểm chính thống của Đảng không nhìn Hồ Chí Minh như một nhân vật “hay hay” để rút ra vài bài học quản trị. Tạp chí Cộng sản viết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Đảng ta cũng khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Marx – Lenin là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam cho hành động cách mạng.
Vậy mà trong cuốn sách của ông, quá trình Nguyễn Ái Quốc học tập lý luận chính trị, dịch tác phẩm của Marx và Lenin lại được mô tả bằng cái giọng điệu như thể đó là một cực hình vô vị. Ông thử nghĩ coi, một người đang đi tìm đường cứu nước mà không học lý luận, không nghiên cứu chủ nghĩa Marx – Lenin, không đọc, không dịch, không nghiền ngẫm, thì lấy gì để vượt qua những con đường cứu nước cũ? Lấy gì để phân biệt cải lương với cách mạng, nửa vời với triệt để, cảm tính yêu nước với đường lối giải phóng dân tộc?
Lý luận cách mạng không phải một đống chữ khô, thưa ông. Với người cách mạng, lý luận là ánh sáng. Nó không thay thế lòng yêu nước, nhưng nó chỉ đường cho lòng yêu nước. Nó không làm người ta bớt thương dân tộc mình, mà giúp người ta biết phải tổ chức lực lượng nào, đánh vào đâu, dựa vào ai, đi con đường nào, tránh rơi vào ảo tưởng nào.
Nhiều bậc tiền bối yêu nước đã dấn thân, hy sinh, đáng kính vô cùng, nhưng lịch sử cũng cho thấy những con đường ấy chưa đưa dân tộc tới độc lập trọn vẹn. Nguyễn Ái Quốc vĩ đại không chỉ vì Người yêu nước. Nhiều người Việt Nam yêu nước lắm. Người vĩ đại là vì từ lòng yêu nước ấy, Người đã đến với chủ nghĩa Marx – Lenin; từ khát vọng độc lập dân tộc, Người đã tìm thấy con đường cách mạng vô sản phù hợp với Việt Nam. Đó là bước ngoặt tư tưởng. Đó là sự chuyển hóa lịch sử. Đó là ánh sáng, không phải “cực hình” như ông tự suy diễn đâu.
Gọi sự rèn luyện lý luận ấy là “cực hình” thì ông đã làm méo mó đi bản chất của người cách mạng. Ông có thể không thích lý luận vì ông không đủ phẩm chất của người làm nghiên cứu. Ông có thể thấy lý luận khô vì ông không đủ trình để hiểu về triết học. Nhưng cái không thích của ông không có quyền biến thành cách viết làm người trẻ coi nhẹ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Rồi ông lại viết về Nguyễn Tất Thành ở tuổi ba mươi bằng những chữ như “lang thang không nghề nghiệp”, “không có chỗ ở cố định”, “thành tích chính trị” chưa có gì đáng kể. Tôi đọc mà thấy chua chát. Một con người đang bôn ba trong lòng chủ nghĩa thực dân, làm đủ nghề để sống, quan sát thân phận người lao động thuộc địa, tham gia hoạt động báo chí, chính trị, gửi "Yêu sách của nhân dân An Nam", tiếp xúc với phong trào công nhân và phong trào cộng sản quốc tế, vậy mà bị ông đo bằng cái thước của một hồ sơ xin việc.
Thưa ông, người đi tìm đường cứu nước không nhất thiết phải có một căn hộ ổn định. Người cách mạng không phải lúc nào cũng có chức danh đẹp. Một thanh niên không chịu yên thân trong trật tự thực dân, không chịu kiếm miếng cơm ổn định dưới bóng của kẻ đô hộ, không chịu sống đời riêng sung sướng khi dân tộc còn chìm trong nô lệ, thì không thể bị gọi một cách nhẹ hều bằng mấy chữ “lang thang không nghề nghiệp”.
Ông Nam à, Hồ Chí Minh không có chỗ ở cố định vì Người đang đi tìm một chỗ đứng cho cả dân tộc. Người không có nghề nghiệp ổn định vì Người không muốn ổn định đời mình trên nền tảng thuộc địa và thân phận dân nô lệ của đất nước. Có những người nhìn bề ngoài như trắng tay, nhưng trong lòng thì đang mang một câu hỏi lớn hơn mọi sự nghiệp cá nhân, đó là làm sao cứu nước, cứu dân?
Nếu ông dùng tiêu chuẩn của một doanh nhân thành đạt như CEO của FPT để đo Nguyễn Tất Thành, thì ông sẽ không bao giờ hiểu hết về Nguyễn Tất Thành. Nếu ông dùng tâm thế quản trị, startup, đi ra thế giới, tìm bài học thành công để soi Hồ Chí Minh, thì ông chỉ thấy một góc nhìn rất nông cạn, thô thiển. Hồ Chí Minh không phải một “case study” doanh nhân. Cách mạng Việt Nam không phải một dự án khởi nghiệp. Dân tộc bị áp bức không phải một thị trường chờ người giỏi đến khai phá. Và hành trình cứu nước không thể bị thu nhỏ thành mấy bài học vượt khó cho giới kinh doanh.
Tôi không phủ nhận việc người làm kinh tế có thể học ở Bác tinh thần bền bỉ, tầm nhìn quốc tế, sự linh hoạt, khả năng tổ chức. Nhưng lấy Bác để học không có nghĩa là được quyền tái chế cuộc đời Bác thành ngôn ngữ doanh nhân một cách thiếu đạo đức như ông đã làm. Bác lớn hơn một bài học quản trị rất nhiều. Bác là kết tinh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, của trí tuệ thời đại, của sự gặp gỡ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Cũng vì vậy, tôi không thể chấp nhận cách ông đặt vấn đề như thể trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc có một mâu thuẫn giữa chủ nghĩa quốc tế Marx – Lenin và độc lập dân tộc. Đây là kiểu diễn giải đánh lạc hướng người đọc. Với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không phải hai con đường trái ngược nhau. Độc lập dân tộc là điều kiện đầu tiên để nhân dân thoát khỏi ách nô lệ; chủ nghĩa xã hội là con đường để độc lập ấy có nội dung thực chất, để người dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được làm chủ, được sống có phẩm giá.
Hồ Chí Minh không lấy quốc tế để xóa dân tộc. Người cũng không lấy tư tưởng dân tộc hẹp hòi để quay lưng với quốc tế. Người đặt cách mạng Việt Nam trong dòng chảy cách mạng thế giới, đồng thời luôn xuất phát từ lợi ích dân tộc Việt Nam, từ quyền sống của nhân dân Việt Nam. Đó không phải là mâu thuẫn. Đó là sự sáng tạo. Đó là bản lĩnh độc lập tư tưởng.
Nếu ông muốn đối thoại về tư tưởng Hồ Chí Minh, xin ông hãy đối thoại với cái tầm ấy. Đừng kéo nó xuống thành những nhận xét lửng lơ, không có sắc sảo gì đâu mà thực chất đã làm người đọc trẻ hiểu sai cái cốt lõi vấn đề.
Đặc biệt, thưa ông Nam, tôi phải nói thẳng về chữ “cướp” khi ông viết Việt Minh “cướp” chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim. Đây không phải chuyện có quyền dùng từ cho vui đâu nha. Đây là vấn đề lập trường lịch sử đất nước, lịch sử Cách mạng đó, nha ông.
Cách mạng Tháng Tám là cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh. Đó là thời điểm phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, chính quyền tay sai rệu rã, quần chúng cách mạng vùng lên giành quyền làm chủ đất nước. Chính phủ Trần Trọng Kim tồn tại trong bối cảnh Nhật đảo chính Pháp, dưới cái bóng của phát xít Nhật, không thể là hiện thân trọn vẹn cho ý chí độc lập của toàn dân tộc.
Một dân tộc bị cướp nước đứng lên giành lại chính quyền cho nhân dân, ông gọi là “cướp” sao? Người bị trói phá dây trói để đứng dậy, ông gọi là cướp tự do sao? Người bị chiếm nhà nay lấy lại căn nhà của mình, ông gọi là cướp nhà sao?
Một chữ “cướp” đặt sai chỗ đã làm đen tối đi cả một cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc. Nó biến chính nghĩa của nhân dân thành một thủ đoạn. Nó biến cuộc tổng khởi nghĩa thành một cuộc tranh đoạt. Nó biến ý chí nhân dân thành mưu mẹo chính trị. Và nguy hiểm hơn, nó mở cửa cho những luận điệu xét lại lâu nay vẫn muốn phủ nhận tính chính nghĩa của Cách mạng Tháng Tám.
Ông có thể nói mình chỉ kể theo lối đối thoại, gợi mở, không áp đặt. Nhưng thưa ông, có những điều không thể lấy cái gọi là “gợi mở” để làm mờ nhạt đi. Sự thật lịch sử không phải cục đất sét muốn nặn sao thì nặn; Cách mạng Tháng Tám cũng không phải là một cuộc tranh luận câu chữ. Và Hồ Chí Minh càng không phải là một nhân vật để thử nghiệm các kỹ thuật kể chuyện hậu hiện đại, nơi mọi giá trị đều bị đem ra pha trò, đảo chiều, giải thiêng, rồi tự gọi đó là khai phóng.
Tạp chí Cộng sản đã cảnh báo rất rõ về thủ đoạn xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh thế này “... bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ nhân cách, đánh giá phiến diện, lập lờ thật – giả để hạ bệ hình tượng Hồ Chí Minh và phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.” Tôi không kết luận động cơ của ông. Tôi không nói ông thuộc lực lượng này hay lực lượng kia. Nhưng tôi nhìn vào chữ nghĩa, và tôi thấy nhiều chữ nghĩa trong sách của ông đang đi rất đúng bài bản vào vùng nguy hiểm mà công tác tư tưởng của Đảng đã nhiều lần cảnh báo.
Đó là lấy cái “mới” để làm lung lay cái đúng. Lấy cái “gần gũi” để làm mòn cái thiêng. Lấy cái “đa chiều” để làm nhòe chính nghĩa. Lấy cái “đối thoại” để hợp pháp hóa những suy diễn lộng ngôn.
Ông Nam à, nếu một người bình thường trên mạng viết vài câu bông lơn về Bác, dư luận còn phản ứng. Vậy một người từng giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, một người có sách in chính thức, có nhà xuất bản đứng tên, có truyền thông giới thiệu, lại viết những điều dễ gây lệch nhận thức như vậy, thì trách nhiệm càng nặng hơn nhiều. Người dạy học sai một chữ có thể làm sai một lớp người học. Người viết sách sai lại sẽ làm lệch lạc nhận thức của nhiều người đọc.
Tôi từng học, từng tìm hiểu về Bác từ nhỏ. Càng đọc, càng thấy Người đáng kính. Không phải kính theo kiểu nhắm mắt tung hô, mà kính vì càng soi vào lịch sử càng thấy tầm vóc của Người. Một con người đi ra thế giới khi đất nước còn chìm trong nô lệ; tìm thấy con đường cứu nước khi bao con đường cũ bế tắc; sáng lập và rèn luyện Đảng; lãnh đạo nhân dân giành độc lập; đặt nền cho một nhà nước của dân, do dân, vì dân; sống giản dị đến tận cùng mà vẫn mang tầm vóc của một nhà văn hóa lớn. Một con người như thế, dù ai nghiên cứu từ góc độ nào, cũng phải có sự nghiêm cẩn tối thiểu.
Tôi không cần ông phải viết sách như văn kiện của Đảng. Tôi cũng không bắt ông phải dùng giọng điệu hô khẩu hiệu. Nhưng tôi đòi hỏi sự tử tế với lịch sử. Tôi đòi hỏi sự công bằng với Bác. Tôi đòi hỏi người cầm bút khi viết về lãnh tụ dân tộc phải biết cái gì có thể đùa, cái gì không thể đùa; cái gì có thể ví von, cái gì không thể ví von; cái gì là đối thoại học thuật, cái gì là lộng ngôn được ngụy trang.
Người xưa nói, quân tử cẩn trọng lời nói. Một chữ viết ra, nếu đúng, có thể nâng người đọc lên tầm cao mới. Một chữ viết sai, nhất là viết sai về lịch sử dân tộc, sẽ kéo người đọc xuống vùng hoài nghi chính nghĩa rất độc hại. Viết về Bác mà không cẩn trọng thì không phải là ông đang biểu diễn cá tính riêng đâu. Đó là ông đã thiếu kính sợ trước điều lớn lao của đất nước và dân tộc.
Thưa ông Nguyễn Thành Nam,
Tôi mong ông hiểu rằng những người dân như tôi phản ứng với ông không phải vì chúng tôi sợ lịch sử bị xét lại đâu, mà vì chúng tôi thấy lịch sử đang bị ông diễn đạt bằng một giọng điệu không xứng đáng. Tôi không phản đối việc đưa Bác đến gần giới trẻ, mà phản đối việc ông đã hạ bệ Bác. Không ai phản đối việc ông đổi mới phương pháp dạy học, mà phản đối việc ông lấy cớ đổi mới để làm tấm áo che cho sự dễ dãi, cợt nhả, sai lệch.
Đưa Bác đến gần người trẻ là để người trẻ hiểu Bác hơn, kính Bác hơn, học ở Bác bản lĩnh, đạo đức, tầm nhìn, tình thương dân, ý chí độc lập. Chứ không phải để người trẻ quen miệng gọi hành trình cứu nước là “phượt”, gọi học lý luận chính trị là “cực hình”, gọi Cách mạng Tháng Tám là “cướp” chính quyền.
Nếu đó là “lời kể mới”, thì cái mới ấy trả giá quá đắt, vì người đọc sách của ông đã mất đi trong lòng sự tôn kính lịch sử hào hùng của dân tộc. Nó bắt lịch sử phải chịu những vết xước không đáng có. Nó bắt hình tượng Hồ Chí Minh phải đi qua một lớp ngôn ngữ thấp hơn tầm vóc của Người.
Và cuối cùng, tôi cũng muốn nói với nhà xuất bản, đơn vị phát hành, những người tổ chức truyền thông, những người ca ngợi cuốn sách này như một “điểm sáng” rằng, các vị có quyền yêu thích một cách viết mới, nhưng các vị không có quyền thờ ơ với nguy cơ làm sai lệch nhận thức lịch sử. Một cuốn sách đụng tới Hồ Chí Minh, đụng tới Cách mạng Tháng Tám, đụng tới Việt Minh, đụng tới chủ nghĩa Marx – Lenin, đụng tới nền tảng tư tưởng của Đảng, thì không thể được đọc và duyệt như một cuốn tản văn thông thường.
Nếu đã sai thì phải chỉ ra ngay. Nếu đã thấy lệch lạc thì phải chỉnh sửa ngay. Nếu gây hiểu lầm nghiêm trọng thì phải có trách nhiệm. Không thể để những câu chữ lộng ngôn đi qua cánh cửa xuất bản rồi gọi đó là tự do học thuật. Tự do học thuật không phải tự do làm bẩn sự thật lịch sử. Đối thoại lịch sử không phải là đối thoại trong tình trạng vô nguyên tắc.
Tôi không chấp nhận cách viết làm tầm thường hóa Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi không chấp nhận cách gọi hành trình cứu nước là “phượt”. Tôi không chấp nhận cách coi học lý luận cách mạng là “cực hình”. Tôi không chấp nhận cách dùng chữ “cướp” với Cách mạng Tháng Tám. Tôi không chấp nhận việc nhân danh “lời kể mới” để gieo vào người trẻ một cái nhìn lửng lơ, nửa đùa nửa thật, nửa học thuật nửa giễu nhại về lịch sử dân tộc.
Với tôi, Bác Hồ không cần ai thần thánh hóa. Nhưng Bác càng không thể bị ai tầm thường hóa. Bác không cần những lời ca tụng rỗng tuếch. Nhưng Bác xứng đáng được đối xử bằng sự nghiêm cẩn, công bằng và kính trọng. Bác là người của nhân dân, nhưng không phải để ai muốn dùng chữ gì để nói về Người cũng được.
Có những điều thiêng liêng không phải vì bị cấm đụng tới, mà vì khi đụng tới, người ta phải biết rửa tay cho sạch. Lịch sử cũng vậy. Hồ Chí Minh cũng vậy. Cách mạng Tháng Tám cũng vậy.
Thưa ông Nam, đối thoại với lịch sử là việc cần thiết. Nhưng trước khi đối thoại với lịch sử, người cầm bút phải biết cúi đầu trước sự thật lịch sử. Nếu không có sự cúi đầu ấy, thì mọi “lời kể mới” rất dễ trở thành một thứ lộng ngôn cũ kỹ, cũ như thói ngạo mạn của những người tưởng mình thông minh hơn lịch sử, nhưng thật ra chỉ đang làm nghèo đi đạo lý biết ơn của dân tộc mình.

︎ Hết