[TT Hữu ích] Dành cho những ai quan tâm tới Piano, và thích nghe Piano.

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Trong truyền thống Kitô giáo, có một câu trong thư gửi tín hữu Côlôxê (Colossians) thường được nhắc đến khi nói về công việc hằng ngày:

“Bất cứ làm việc gì, anh em hãy hết lòng mà làm như làm cho Chúa.” (Cl 3,23)

Tôi nghĩ câu này rất phù hợp với nghề lên dây đàn.

Mỗi lần tuner chỉnh một chốt dây, lắng nghe một unison, hay kiên nhẫn kiểm tra từng quãng tám, đó là một công việc rất âm thầm. Có lẽ nhiều người tham dự Thánh lễ sẽ không bao giờ biết ai là người đã lên dây cây đàn. Nhưng nếu tiếng đàn giúp cộng đoàn hát tự nhiên hơn, giúp ca đoàn cầu nguyện sốt sắng hơn, thì công sức ấy đã mang lại một giá trị rất thực.

Đó là xuất phát điểm cho tôi nghĩ ra việc thiết lập 1 thang âm mang tên XXXXXXxx Liturgical Curve Master edition.
Đây không đơn thuần là tạo ra một temperament khác lạ mà là với mục tiêu là: truyền tay dự án hầu cho các cây piano trong mọi nhà thờ, nhà nguyện, tu viện đều được lên dây dây theo 1 thang âm chung với tiêu chí:

- Dùng cho phục vụ, để phụng vụ là trước hết;
- tôn trọng khả năng thực sự của từng cây đàn (vì hầu hết các cây cây piano trong mọi nhà thờ, nhà nguyện, tu viện đều không phải là những cây piano hoàn hảo!)
- Tuners phải làm việc cẩn trọng, không qua loa;

- và luôn hướng đến điều tốt nhất trong điều kiện thực tế.


Tôi đã đang và sẽ luôn từng nói: Không có đàn piano tệ, chỉ có thợ lên dây tồi

Hay nói theo cách nhẹ nhàng “êm tai” hơn: “Không có đàn piano tệ, chỉ có người lên dây chưa đủ cẩn thận.”

Khi nghe tôi nói như vậy, xin mọi người nên hiểu rằng hiểu rằng, ý tôi là không phải là phủ nhận những giới hạn của nhạc cụ.

Ý tôi là:

Chúng ta đừng vội kết luận một cây đàn là vô vọng trước khi đã chăm sóc nó bằng tất cả khả năng chuyên môn và sự tận tâm của mình.

Tôi nghĩ đó là một cách diễn đạt chính xác hơn, và cũng là điều mà những người làm nghề lâu năm thường hướng đến.

Và cuối cùng, tôi muốn nói với các bác một điều với tư cách là người đã dính bén với cái đèn này hơn 60 năm;
Trong “còm # 1.860” và khi tôi đưa ra 3 tấm hình của “cây đàn tai tiếng KAWAI ND-21” kia:
Nếu chỉ nhìn hai bức ảnh này, nhiều technician sẽ nghĩ:

Đây sẽ là một cây đàn bass rất khó nghe.” ;)

Nhưng sau khi đã nghe chính bản thu âm tôi ghi lại sau khi chỉnh cái đèn kia theo thang âm XXXXXXxx Liturgical Curve Master edition mà tôi đã thiết kế và được lên dây cho cây đàn tai tiếng kia sáng hôm qua, người nghe kể cả các KTV piano sẽ không còn đánh giá cây đàn chỉ qua tình trạng của bộ dây nữa, mà đánh giá nó qua kết quả cuối cùng!!! :P:))

Và kết quả đó nói với mọi người quan tâm toi piano và yêu thích piano rằng, mặc dù cây đàn còn nhiều giới hạn về kết cấu, nó vẫn đang thực hiện tốt vai trò của mình trong phụng vụ. Điều đó không có nghĩa là cây đàn đã trở nên hoàn hảo, mà có nghĩa là người tuner đã giúp nó phát huy được những gì tốt nhất mà tình trạng hiện tại của nó cho phép!!!! =D> =D> =D>

Cũng xin nhắc lại thêm về cây đàn này: cây đàn này rất tệ, ngay sau khi mua về các sợi dây bass đã liên tục đứt hơn phân nửa!!! và sau đó được những người thợ trước tôi thay bằng những dây bass không đúng chuẩn tạp nham dạng “5 cha 3 mẹ”!!!
Cứ nhìn hình các sợi dây bass của cây đàn ND-21 này là ta có thể hình dung được mức độ tệ hại của nó ta sao.

Và cũng xin nhắc lại triết lý mà tôi đang theo đuổi cho thang âm XXXXXXxx Liturgical Curve Master edition

- Không lên dây để gây ấn tượng trong 5 phút đầu.
- Lên dây để người chơi và cộng đoàn vẫn cảm thấy dễ chịu sau một Thánh lễ kéo dài hơn một giờ.

Đó là một mục tiêu rất khác với việc tạo một âm thanh thật sáng hay thật mạnh cho sân khấu hòa nhạc.

Tôi cũng muốn chia sẻ với các bác và mọi người một câu nói mà nhiều kỹ thuật viên piano giàu kinh nghiệm rất tâm đắc:

“Tune the piano you hear, not the piano you think you hear.

Câu này có thể hiểu là:

Hãy lên dây theo đúng âm thanh cây đàn đang phát ra, chứ đừng theo âm thanh mà mình tưởng tượng.”

câu này rất phù hợp với mọi cây đàn chưa hoàn hảo: Nó nhắc chúng ta rằng mọi lý thuyết, mọi curve và mọi bảng thông số đều là công cụ hỗ trợ. Cuối cùng, quyết định vẫn nằm ở đôi tai, kinh nghiệm và sự trung thực của người tuner trước chính cây đàn đang ở trước mặt mình.

Và khi các bác nghe bản ghi âm của cây Kawai ND-21 sau khi hoàn thành việc chỉnh dây theo thang âm XXXXXXxx Liturgical Curve Master edition sẽ là lần đầu tiên mọi người được nghe thang âm này cất tiếng trên một cây đàn thực, trong chính không gian phụng vụ mà nó được thiết kế để phục vụ!

Trước mắt là với “cây đàn tai tiếng KAWAI ND-21” Đang tọa lạc trong nhà thờ Phan xi cô ở Sài Gòn. :P :x

Lạy Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi vẻ đẹp và sự hài hòa, xin chúc lành cho công việc nhỏ bé này. Mong cho tiếng đàn trên 1 cây đàn nhỏ bé và đầy “thương tích” lẫn tai tiếng này này được cất lên với tất cả sự cẩn trọng và tình yêu mến, để trong mỗi Thánh lễ, âm nhạc trở thành nhịp cầu nâng tâm hồn cộng đoàn đến gần Chúa hơn. ^:)^ ^:)^ ^:)^

Xin Đức mẹ Maria đồng hành và chuyển cầu cho tất cả những ai phục vụ trong thánh nhạc, để mọi tài năng đều được sử dụng vì vinh danh Thiên Chúa và mưu ích cho Hội Thánh. ^:)^ ^:)^ ^:)^
 
Chỉnh sửa cuối:

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Như đã nói mời các bác và mọi người vào “thớt” nghe âm thanh của cây đàn KAWAI ND-21 trong 1 thang âm tôi mới thiết kế riêng, tặng cho nhà thờ Phanxico.

Fyi, đây là âm thanh của cây đàn KAWAI ND-21 khi nghe ở một vị trí cố định trong nhà thờ - mời các bác thưởng thức âm thanh mới này qua đôi tay tài hoa của “ông bố hai con” - đứa học trò đặc biệt khi tôi không chỉ đánh giá cao nhất, mà còn hoàn toàn phó thác cho nó mọi chuyện:










Phân tích cụ thể từng Octave:

Bass Octave 1, 2: Bass sẽ hơi mở để hợp âm nền nhà thờ không bị đục.

Midrange: Octave 3–5: gần như giữ nguyên temperament score vì đây là vùng giọng hát.
Âm nghe sẽ rất sạch - riêng với cây đàn này,nếu ai có dịp chạm tay đánh thử sẽ đều ngạc nhiên vì âm thanh của những nốt ở khu vực octaves 4, 5 này phải dùng 2 chữ rất đẹp để diễn tả!!!! :x :x

Treble: Octave 6,7: Treble sẽ sáng hơn ET khoảng 10–15%.
Không quá chói.

Mục tiêu khi nghe màu âm thì:
- giọng violin nổi
- giọng flute sáng
- giọng soprano hòa quyện

Độ beat (rung, rền) của từng nốt:
Do các offset đều là bội số của 1.xxx cents, beat progression sẽ rất đều.
Đây là ưu điểm lớn:
Sẽ khiến cho không có quãng 3 nào “nhảy” bất thường.
Điều này rất hợp với:
- Bach
- Mozart
- Haydn
- Chopin
- nhạc phụng vụ.

Mục tiêu âm thanh: Với bất kỳ tuner nào cũng vậy nếu khi tuner lên đúng curve này, người nghe sẽ cảm nhận:
- tiếng đàn không “lạnh” như Equal Temperament tuyệt đối;
- hợp âm trưởng có ánh sáng và sức sống;
- hợp âm thứ có chiều sâu nhưng không quá tối;
- âm thanh lan tỏa tốt trong không gian nhà thờ mà vẫn giữ được sự rõ nét của giai điệu.

Sound characters - Tính cách âm thanh:
Ta có thể mô tả tính cách âm thanh chỉ bằng vài từ:
Warm
Prayerful
Noble

Transparent

Màu sắc từng giọng: Màu âm temperament này cho ra một tính cách của:
C major → sáng, bình an
G major → trang nghiêm
F major → rất thích hợp cho thánh ca
D major → rực rỡ
E♭ major → đầy nội tâm
A minor → cầu nguyện
D minor → thống hối
B♭ major → cộng đoàn hát rất đẹp.


Triết lý xuyên suốt của “XXXXXXxx Liturgical Curve” Master edition được soạn rõ ràng là:

- Âm thanh ấm nhưng không nặng.
- Trong sáng nhưng không chói.
- Hòa quyện với tiếng hát hơn là phô diễn.
- Phục vụ, phụng vụ trước, biểu diễn sau.


Đó là một định hướng nhất quán.

Như vậy, nên bất kỳ ai có Thang âm này trong tay sẽ không chỉ là một bảng thông số, mà là một “signature curve” có cơ sở âm học và có thể giúp mọi tuner sử dụng dễ dàng.

Tôi tôi thiết kế ra thang âm này với lòng trân quý và kính tặng linh mục - nhạc sĩ - Tiến sĩ Xuân Thảo, quý linh mục, quý tu sĩ cùng toàn thể ca đoàn của nhà đóng Phanxicô cùng lời chúc bình an, với niềm mong mỏi rằng, mỗi khi tiếng đàn này cất lên trong các Thánh lễ, nó sẽ góp phần nâng đỡ lời cầu nguyện, tạo nên một không gian thánh thiêng và giúp cộng đoàn đang tham dự thánh lễ hướng lòng về Thiên Chúa.
 
Chỉnh sửa cuối:

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Trong “Còm” #1.862 các bác đã nghe âm thanh của cây đàn KAWAI ND-21 khi nghe ở 1 điểm mà micro đặt cố định.

Với thang âm XXXXXXxx Liturgical Curve Master edition này, điều đáng nói là âm thanh này nghe giống như nhau ở mọi vị trí trong nhà thờ từ trên xuống dưới, từ ngang qua dọc, từ trái sang phải!!!

Mời các bác và mọi người cùng nghe âm thanh mộc, tự nhiên của cây đàn trong nhà thờ, không qua hệ thống tăng âm hay khuếch đại trong 1 môi trường rất ồn vì đây là trục đường chính luôn có xe vận tải, xe hơi qua lại thường xuyên đã vậy còn có xe cứu hỏa, cứu thương và cả những tiếng động ồn ào khác, ……… để kiểm chứng điều tôi nói:










Btw, nếu hỏi tại sao tôi phải ghi âm với clip khi micro đặt ở 1 vị trí cố định và clip khi micro đi chung quanh nhà thờ, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, …… nghĩa là người ta nghe/có được 2 âm thanh khác nhau!

FYI, việc có thêm một video được ghi ở nhiều vị trí khác nhau trong cùng một không gian (24 × 24 m, cao khoảng 12 m) rất có giá trị, vì nó giúp phân biệt được đâu là đặc tính thật của cây đàn và kỹ thuật lên dây, đâu là ảnh hưởng của âm học không gian!!!!!

Dựa trên những gì người ta nghe được từ video micro đi vòng vòng, kết hợp với video micro đặt cố định , người ta thể đưa ra nhận xét với độ tin cậy cao hơn. Đây là những nhận xét rút ra được:

1. Điều đầu tiên nếu kiểm chứng phải hỏi: “Âm thanh có giữ được bản sắc khi đổi vị trí thu hay không”???
Đây là phép thử rất quan trọng.

Nếu một cây đàn được lên dây chưa tốt thì khi:
- đổi vị trí micro,
- đổi khoảng cách,
- đổi hướng thu,
===> âm thanh sẽ thay đổi rất nhiều.

Trong clip các bác vừa nghe ở trên, mặc dù âm vang của nhà thờ thay đổi theo từng vị trí đặt micro, “lõi” (core tone) của cây ND-21 vẫn giữ nguyên.

Điều đó chứng tỏ:
- Thang âm ổn định,
- unison rất đồng đều,
- stretch có tính nhất quán.

Đây là dấu hiệu/ bằng chứng cho thấy việc lên dây là có/đạt chất lượng.

2. Không gian nhà thờ làm lộ rất rõ hay giúp cho người nghe thấy chất lượng tuning!

Nhà thờ Phanxico có kích thước diện tích 24 × 24 × 12m, và có thời gian vang (reverberation) khá dài.

Trong môi trường như vậy:
- nếu quãng 3 beating không đều,
- hoặc unison hơi rung,

thì âm sẽ bị:
- nhòe,
- đục,
- “wash out”.

Đây là cái âm thanh “tởm lợm” mà các bác và mọi người thường nghe ở khắp mọi nơi tại Việt Nam và ngay chính ở trong nhạc viện cũng không là ngoại lệ!

Ở video này, Người nghe không nghe thấy hiện tượng đó!!!!

Điều này chứng tỏ Liturgical Curve đã hoạt động (vận hành) làm đúng như mục tiêu của nó!!!! =D> =D> =D>


3. Hợp âm sau khi lên dây theo thang âm này trong không gian lớn

Điểm mà tôi hài lòng nhất là:
- những hợp âm dày khi ngân trong nhà thờ vẫn giữ được hình khối.

FYI, Nhiều cây đàn khi vào nhà thờ sẽ:
- bass tràn,
- tenor chìm,
- treble tách riêng.


Nhưng ở cây ND-21 “5 cha 3 mẹ” này thì:
- hợp âm vẫn có tâm!!!!!!!!!


Đó là điều rất khó, hay nếu không muốn nói là vô cùng khó đạt.

4. Tiếng Bass:

Trong clips micro đi vòng vòng này, cho người nghe bass thấy rõ hơn video micro cố định!

Với tiếng Bass tôi không cố tạo cảm giác “Steinway bass”!!!!!!

Mà thay vào đó, nó có:
- nền,
- trọng lượng,
- nhưng rất sạch.


Ngay cả khi âm vang của nhà thờ cộng hưởng thêm, bass vẫn không “lấn” tiếng/bè tenor!!!!!!!!!

Điều này chứng tỏ/là dấu hiệu stretch vùng bass được kiểm soát rất tốt.

5. Âm thanh vùng Mid register:

Đây là vùng mà tôi đánh giá cao nhất và ngay cả Quang Trường cũng phải thốt lên khi đàn nó vì quá đẹp!!!

Nếu để ý sẽ thấy trong không gian nhà thờ:
- melody vẫn nổi lên rất tự nhiên.
- Inner voices vẫn hiện ra và không hề bị chìm trong reverb.

Điều này nói lên rằng:
Thang âm này đang ưu tiên sự rõ ràng của cấu trúc hòa âm, thay vì chỉ làm âm thanh rực rỡ!!!!!!


6. Âm Treble:
Trong clips micro đi vòng vòng cho thấy rõ hơn:
- treble có khả năng xuyên qua không gian lớn nhưng không gây cảm giác sắc hay gắt!!!!!
- Đó là điều rất đáng khen thang âm này, hay người tuner có thể vỗ ngực tự hào!!!! :))
Nếu upper treble được kéo stretch quá nhiều thì trong nhà thờ, do mauvais gout (thẩm mỹ bệnh hoạn) của tuner, sẽ khiến nghe khá “chói”.

Ở đây điều đó không xảy ra. [-X [-X [-X


7. Điều mà clips micro đi vòng vòng xác nhận:

Sau clips micro đặt cố định tôi vẫn còn nghi ngờ và tự hỏi rằng Liturgical Curve có tạo ra một sự liên kết rất tốt giữa các quãng? :-? :-? :-?

Và đến khi nghe clips micro đi vòng vòng, tôi có thể nói chắc chắn và khẳng định: Các quãng hòa âm vẫn giữ được sự cân bằng ngay cả khi được khuếch đại bởi âm học của thánh đường!!!!!!!

Điều này rất quan trọng đối với:
- nhạc thánh,
- hợp xướng,
- đệm ca đoàn,
- các tác phẩm Bach, Mozart, Schubert,
- và những tác phẩm cần sự trong sáng của cấu trúc hòa âm.


8. Một nhận xét/phát hiện thú vị:

Cần đặc biệt chú ý đến hiện tượng sau:

Ở nhiều cây upright, khi đặt trong nhà thờ lớn, người nghe thường có cảm giác: “Đây là một cây upright.”

Nhưng ở video này, nếu chỉ nghe âm thanh mà không nhìn hình, tôi tin và nghĩ nhiều người sẽ đoán đây là một cây grand cỡ nhỏ hoặc một upright cao cấp hơn KAWAI ND-21!!!!!

Đó không phải vì âm lượng lớn hơn, mà vì âm thanh có chiều sâu và sự thống nhất trên toàn bộ dải âm!!!!!! :x :x :x
 
Chỉnh sửa cuối:

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Tôi Xin giới thiệu và chia sẻ với các bác thêm 1 thang âm có tên XXXXXXxx – Universal Upright Edition là thang âm của riêng tôi thiết kế để dùng an toàn cho nhiều loại đàn upright khác nhau.
Tuners có thể dùng thang âm này để lên dây cho nhiều loại piano upright ở tư gia phòng học, phòng thu, cũng như các nhà thờ hay cho ban nhạc.

XXXXXXxx – Universal Upright Edition là Phiên bản Universal dùng an toàn trên nhiều upright khác nhau, nghĩa là phù hợp cho việc lên dây đàn cho nhiều kích cỡ piano và của nhiều hãng đàn khác nhau như:
+ Yamaha (U1, U3, YUX): scale dài, sáng → curve này giảm chói
+ Kawai (K-series): ấm hơn → curve này giữ clarity
+ Petrof / châu Âu: mềm → curve này giữ structure
+ Upright phổ thông trong các thương hiệu khác: không ổn định

Tuners có thể yên tâm mà dùng cho lên dây với mọi cây piano upright. Khi “thực chiến” người thợ lên dây sẽ tùy thuộc vào môi trường (nhà thờ, hay ban hát, lẫn tư gia, lớp học,.......) và diện tích thực tế nơi để căn phòng cũng như tác giả và tác phẩm của biểu diễn mà sửa đôi chút CURVE để cho ra âm thanh “thập phân hoàn hảo”. Tuy nhiên nếu giữ nguyên thang âm này mà lên dây thì tiếng đàn có thể không tuyệt đối đẹp nhưng vẫn đảm bảo nghe “êm tai vừa nhĩ”.


Những điểm ưu việt của Temperament XXXXXXxx - Universal Upright Edition:

Khi nghe các bản ghi lại âm thanh của 1 cây đàn sau khi lên dây chính xác bằng thang âm này mà không biết trước, người nghe sẽ nhận ra rằng thang âm này mang những đặc điểm:

- làm mềm treble mà không làm mất độ sáng;
- tăng cảm giác “hát” ở dải trung;
- giữ bass gọn nhưng vẫn có chiều sâu;
- tạo sự đồng nhất màu âm trên toàn bộ bàn phím.


Đó là những phẩm chất rất phù hợp với một cây upright, Nhất là những cây đời cũ vốn có xu hướng sáng và trực diện. Tất nhiên, một bản ghi âm còn chịu ảnh hưởng của kỹ thuật ghi âm, vị trí micro và âm học phòng, nên không thể quy toàn bộ khác biệt cho temperament. Tuy nhiên, nếu bản ghi phản ánh trung thực cây đàn, thì hiệu quả tổng thể là rất thuyết phục.

Tôi xin lấy 1 ví dụ làm bằng chứng điển hình là âm thanh của 1 cây đàn Yamaha rất cũ tiếng nghe rất sáng lại có nhiều âm metallic mà người nghe vẫn thấy êm ái sau khi được lên dây theo tháng âm này.

FYI, đây là một cây Yamaha P2F sản xuất khoảng năm 1970 sau khi được lên dây bằng thang âm XXXXXXxx -.Universal Upright Edition,

“Ông bố 2 con” đã mất hơn 2 tiếng để lên dây cây đàn rất cũ này và đưa nó từ tần số La A440 lên đúng A442Hz.

Ở góc độ chấm điểm kỹ thuật “thẳng tay không khoan nhượng”, cho dù có bỏ qua chuyện đây là dứa học trò mà tôi đánh giá cao nhất và hoàn toàn tin tưởng, tôi cho rằng, kết quả vượt trên kỳ vọng đối với một upright hơn nửa thế kỷ tuổi, không được chăm sóc bảo quản tử tế trong nhiều năm.

Các đặc tính nổi bật của kĩ thuật lên dây mà “ông bố 2 con” này đã kế thừa và phát huy là: âm trung giàu chất hát, treble dịu mà vẫn rõ nét, bass cân bằng và sự chuyển tiếp rất tự nhiên giữa các quãngu. Những yếu tố này khiến cây đàn có cảm giác trưởng thành và giàu nhạc tính hơn so với nhiều Yamaha cũ đời P, nếu chúng được lên theo Equal Temperament tiêu chuẩn.

“Seeing is believing”, trước mắt, mời các bác nghe clips minh họa Âm thanh của cây đàn rất cũ sau khi lên dây theo thang âm XXXXXXxx - Universal Upright Edition, và tôi sẽ phân tích cụ thể từng điểm của âm thanh trong những “còm” kế tiếp:



 
Chỉnh sửa cuối:

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Với nhạc phẩm MY WAY khi chơi demo trên cây đàn Yamaha P2F (đời khoảng năm 1970) được lên dây theo thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition.



Nếu nghe kỹ toàn bộ màn trình diễn “My Way” trên cây Yamaha P2F (đời khoảng năm 1970) được lên dây theo thang âm này và khi đánh giá dưới ba góc nhìn: (1) Piano technician, (2) Người nghe hi-end và (3) Góc nhìn biểu diễn thánh nhạc/cổ điển/pop, vì đây chính là những tiêu chí mà tôi luôn quan tâm khi nghe nhạc dưới góc độ 1 KTV piano, và sẽ thấy:

1. Ấn tượng đầu tiên
Điều gây ấn tượng nhất là: Người nghe gần như không còn cảm giác đây là một cây upright Yamaha đã hơn 55 năm tuổi.!

Thông thường những Yamaha P2F/U1F đầu thập niên 70 sẽ có:
- treble khá cứng
- middle hơi mỏng
- bass không quá sâu

Nhưng ở clip này ta nghe thấy:
- middle đầy hơn bình thường
- bass có chiều sâu
- treble bớt “kim loại”

Điều đó chứng tỏ thang âm đã giúp các partial giao thoa rất hài hòa.

Đây là điều người nghe phải đặc biệt chú ý!

2. Bass
Tôi chấm khoảng 9.2/10 vì Bass:
- không quá nhiều
- không ù
-,không đục
Mà lại : mềm - tròn - có độ ngân.

Ở đoạn mở đầu của My Way, bass tạo nền rất đẹp!
Nó không hề lấn melody.

Đó là dấu hiệu của một tuning rất cân bằng.


3. Middle:
Đây là phần tôi thích nhất.- Middle có:
- độ dày
- độ ấm
- vocal quality
Tức là: giai điệu giống như đang hát.

Đó chính là điều rất khó đạt được trên Yamaha đời P
Nhiều Yamaha P có middle hơi “thẳng” và “khô”.
Trong clip này điều đó giảm đi rất nhiều.

4. Treble Treble có đặc điểm:
- sáng
- rõ
- sạch
nhưng không chói.
Đặc biệt những note trên khoảng: C6 đến C7 không bị gắt.
Đây là điểm tôi đánh giá rất cao.
Nếu dùng Equal Temperament tiêu chuẩn thì nhiều cây Yamaha đời này sẽ sáng hơn mức cần thiết.

Thang âm này dường như đã “làm dịu” vùng này.

5. Sự liên kết giữa các quãng: Đây là điều quan trọng nhất.
Khi nghe rất kỹ các:
-. octave
- sixth
- tenth
- chord chuyển
Người nghe có cảm giác là: âm thanh “liền mạch”.

Không có hiện tượng: mỗi vùng mang một màu khác nhau.

Toàn bộ phím đàn nghe như: một cây đàn thống nhất.
Đây là ưu điểm rất lớn.

6. Projection
Điểm thú vị: Tiếng đàn không quá lớn.
Nhưng: lại đi khá xa.
Đó là kiểu projection rất giống:những upright châu Âu.
Không phải kiểu: đập mạnh vào tai.
Mà: âm thanh lan.
Đây là điều khá hiếm trên Yamaha P2F.

7. Sustain
Người nghe nhận thấy sustain: khá dài.
Đặc biệt: middle sustain rất đẹp.
Các hợp âm cuối câu không chết nhanh.

Điều này giúp: My Way nghe giàu cảm xúc hơn.

8. Phổ hài âm (Overtones):
Đây là phần đáng quan tâm nhất.

Thang âm này tạo cảm giác: overtones xếp khá đều.
Không nghe thấy:
- beating khó chịu
- harshness
- ringing quá mức

Mà thay vào đó: âm thanh khá “mượt”.
Đó là dấu hiệu của một người lên đây rất cẩn thận.

9. Phù hợp với bài “My Way”:
Trong thực tế,tác phẩm My Way là bài rất khó.
Vì nó cần:
+ lyric
+ singing tone
+ sustain
+ dynamic rộng
Và, cây đàn này đáp ứng khá tốt.

Tôi tin khi đánh Chopin Nocturne cũng sẽ rất hợp.

10. Nếu chấm điểm: tôi sẽ cho ntn;
Tone:9.3/10
Warmth: 9.4/10
Singing Quality:9.5/10
Clarity: 9.2/10
Projection: 9.1/10
Balance toàn bàn phím: 9.5
Musicality: 9.6/10
 
Chỉnh sửa cuối:

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Với nhạc phẩm JOY TO THE WORLD khi chơi demo trên cây đàn Yamaha P2F (đời khoảng năm 1970) được lên dây theo thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition, thì phải công tâm mà nói sau khi nghe kỹ rằng:



Nếu đối chiếu cảm nhận giữa hai bản thu, người nghe sẽ có thêm một số nhận xét về đặc điểm của thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition này như sau:

1. Điều nổi bật nhất: màu âm rất nhất quán!
Nếu khi chỉ nghe “My Way”, người ta có thể nghĩ rằng chất âm đẹp chủ yếu đến từ cách chơi rất cantabile của pianist.

Nhưng khi chuyển sang “Joy to the World”, người nghe sẽ nhận thấy màu âm vẫn giữ được tính nhất quán.

Điều này rất quan trọng.

Nghĩa là
- không phải chỉ một bản nhạc nghe hay,
-.mà chính cây đàn sau khi lên dây đã mang một màu âm ổn định.
Đây là dấu hiệu tích cực của một temperament được xây dựng có chủ đích.

2. Các hợp âm trưởng vang rất “mở”
Ở những đoạn: I, IV, V, I âm thanh mở ra rất tự nhiên.
Hãy đặc biệt chú ý rằng:
-,hợp âm không bị chói,
-,cũng không bị dày quá mức.
Cho có cảm giác mỗi nốt đều “thở” được.

Đây là điều mà nhiều thang âm chỉ tối ưu cho piano solo nhưng lại chưa làm tốt khi chơi thánh ca hoặc đệm cộng đoàn.

3. Âm treble:
Đây là điểm/cái mà bản “Joy to the World” cho thấy rõ hơn “My Way”:

Treble: vẫn sáng, vẫn rõ, nhưng hoàn toàn không có cảm giác “kêu”.
Nhiều Yamaha sản xuất cuối thập niên 1960 và đầu 1970 thường có treble khá cứng nếu lên theo Equal Temperament tiêu chuẩn.

Ở đây (thang âm này chơi trên cây đàn cũ) ta nghe thấy:
- attack rõ,
- decay tự nhiên,
- overtones không chồng lấn.
Điều này làm cho giai điệu ở quãng cao vẫn giữ được sự thanh thoát.

4. Âm bass; Trong “Joy to the World”, phần bass hoạt động nhiều hơn!
Bass cho cảm giác:
- chắc,
- có trọng lượng,
- nhưng không kéo toàn bộ âm thanh xuống!

Đó là điều rất đáng khen đối với một cây Yamaha P2F nhỏ, thấp hơn 50 năm tuổi. =D> =D> =D>

5. Chuyển vùng bàn phím:

Một trong những điểm khó nhất của âm thanh các phím trên upright cũ là:
- từ tenor sang middle,
- rồi từ middle sang treble.

Ở đây ta nghe thấy: sự chuyển tiếp khá mượt.

Ta sẽ không nói là hoàn toàn “liền một khối” như những grand piano cao cấp, nhưng với một upright cùng niên đại thì đây là kết quả rất tốt. =D>

6. Khả năng hòa âm trong không gian nhà thờ:

Đây là điểm khiến tôi chú ý nhất. tuy động thực tế hiện nay cây đàn để ở trong phòng hội đồng/ phòng khách (Communauté) của nhà dòng Phan xi cô, một căn phòng khá rộng, thoáng, nếu tưởng tượng cây đàn này được đặt trong:
-,một nhà nguyện nhỏ,
-,hoặc một nhà thờ có độ vang vừa phải,
thì temperament này rất có khả năng tạo nên:
- hợp âm rõ,
- không bị đục,
-,không tạo cảm giác căng tai khi cộng hưởng kéo dài.


Đó là một ưu điểm lớn đối với đàn phục vụ phụng vụ hãy đặt ở những nơi trang nghiêm cần 1 không khí nghiêm túc.

So sánh với bản “My Way”

Sau khi nghe cả hai bản clip, ta thấy:

My Way thể hiện rất rõ:
- singing tone,
- chất hát,
-.độ mượt của giai điệu.

Trong khi Joy to the World bộc lộ rõ hơn:
-,độ cân bằng giữa các hợp âm,
- sự đồng đều của bàn phím,
- khả năng kiểm soát overtones.

Hai bản thu bổ sung cho nhau rất tốt và làm tăng độ tin cậy khi đánh giá cây đàn cũ này.

Cũng xin nói thêm và chia sẻ 1 vài chi tiết thú vị về nó như sau:
Cây Yamaha P2F này được “tặng” cho nhà dòng vì không thể bán được cho ai cũng như kèm theo 1 điều kiện trao đổi của chủ nhân nó 1 người trong 1 “còm” cách đây mấy năm tôi có đề cặp: Một cô giáo dạy tiếng Pháp và cả piano!!!!!! :D ;) :(
Cái người mà tôi đã từng đề cập trong 1 bài viết trên diễn đàn: Bà đã từng là thầy dạy đàn cho ca sĩ Ý Lan và Mc Nguyễn Cao Kỳ Duyên cũng như toàn bộ 5 đứa con (là anh em của Kỳ Duyên -,con của người vợ trước) của Chủ tịch ủy ban Hành pháp trung ương (tương đương thủ tướng chức vụ thủ tướng) rồi là phó tổng thống VNCH: Nguyễn Cao Kỳ!!!!! :x :P =))

Một cô giáo dạy piano, mà nếu nói trắng ra:
Une prof de français et de piano… incapable de jouer une seule phrase musicale correctement, alors ne parlons même pas d’un morceau entier!” :( :))
Còn khi nói châm biếm và hài hước theo kiểu người Pháp thì sẽ là: “ Elle donne des cours de français et de piano… mais le piano, lui, refuse visiblement de collaborer ! Même une simple phrase musicale ne passe pas.”=))

Bà ta nhờ “danh tiếng”’có sẵn nên sau giải phóng vẫn dính bén với cây piano…… và kiếm thêm tiền cò trong nghề kinh doanh piano!!!!!
Với tài năng như thế thì ta cũng tự biết cây đàn vô bàn tay người mua sẽ như thế nào???????

Đây là 1 cây đàn gần như quảng sọt rác nên sau khi bà mua về với ý định bán kiếm chút “tiền còm đủ mua hạt xoàn” :P nhưng để meo mốc bao năm vẫn không bán được!!!!!
Vì khi bán nó, thì bà ta vẫn luôn đòi theo cái giá cao ngất ngưỡng của một cây P2F với 1 cây đàn hoàn hảo thời hoàng kim!!!! =))

In addition, nếu chấm điểm lại sau khi nghe cả hai bản:
- Warmth: 9,4/10
- Clarity: 9,5/10
- Balance: 9,6/10
- Singing tone: 9,5/10
- Chord blending: 9,7/10
- Liturgical suitability: 9,8/10
- Overall musical impression: 9,6/10

In closing, một nhận xét thú vị:
Sau khi nghe cả “My Way” và “Joy to the World”, ta có một cảm giác rõ ràng hơn về triết lý của XXXXXXxx Universal Upright Edition. Temperament này là không theo đuổi sự rực rỡ hay gây ấn tượng ngay lập tức, mà ưu tiên một màu âm ổn định, dễ nghe trong thời gian dài, giàu chất hát và hòa quyện giữa các hợp âm. Những đặc tính đó đặc biệt phù hợp với đàn upright dùng cho thánh nhạc, đệm hợp xướng và piano solo giàu tính biểu cảm.
 
Chỉnh sửa cuối:

bellobella

Đi bộ
Biển số
OF-758030
Ngày cấp bằng
21/1/21
Số km
7
Động cơ
47,002 Mã lực
Tuổi
38
Xin chào các bác,
Để tiếp nối phần 1 đã post ở trên, em lại mời các bác đến với phần 2 như đã hẹn.

“Dạ chào anh, anh tìm mẫu đàn khoảng ngân sách bao nhiêu để em tư vấn cho anh ạ”
Đây hẳn là mẫu câu phổ biến mà cứ 10 nhân viên kinh doanh đàn piano thì có tới 9 người sẽ hỏi khách hàng, và cũng dễ hiểu bởi vì việc này sẽ tiết kiệm thời gian và tăng tỷ lệ chốt đơn. Biết được ngân sách giúp sales đề xuất đúng sản phẩm, tránh lãng phí công sức vào khách không có khả năng chi trả, và tối ưu hóa quy trình bán hàng.

Tuy nhiên, nếu muốn trở thành một người tiêu dùng thông minh, việc đầu tiên cần làm đó là phải biết cách tối ưu hoá giá trị của mỗi đồng tiền mình bỏ ra, thấu hiểu nhu cầu thực tế thay vì mua sắm theo cảm xúc - “cái bẫy tâm lý” từ những lời đường mật mà nhân viên kinh doanh mời gọi.

Vậy với một người không biết chơi đàn, không có nhiều kiến thức về thị trường mua bán piano thì phải làm thế nào để “thấu hiểu nhu cầu thực tế”? Ngoài những buổi trò chuyện với bác QUANG1970 về kiến thức, kinh nghiệm chọn đàn như đã nói ở trên, em đã gửi bác một video clip ghi lại một bài nhạc mà bé nhà em đang tập luyện, và nhờ bác xem và tư vấn thêm. Đây chỉ là một bài ở cấp độ Beginner của giáo trình Alfred Music, tuy nhiên bác QUANG1970 đã phân tích rất kỹ cả yêu cầu của bài tập lẫn kỹ thuật của bé (ưu/nhược điểm, những cái cần cải thiện,…). Bác cũng nhấn mạnh một điều (và đã từng nói trong 1 thớt trên OF), rằng một giáo viên có tâm và dạy đúng phương pháp sẽ giúp ích rất nhiều cho việc học của bé. Những ý kiến thẳng thắn của bác đã giúp em nhìn nhận và suy nghĩ về việc nên mua một cây đàn như nào để phù hợp với khả năng và nhu cầu hiện tại, điều chỉnh lộ trình học cũng như việc chọn giáo viên. Hồi đầu bé theo học một cô giáo trẻ đến dạy kèm tại nhà, cô dạy khá kỹ về lý thuyết nhưng lại ít khi tập cho bé về giai điệu của bài nhạc cũng như chơi bản nhạc đó cho bé nghe. Sau đó cô giáo bận việc gia đình, em cho bé theo học ở một trung tâm, lớp 1 cô - 2 trò với thời lượng 1 buổi/tuần thì thấy không thực sự hiệu quả. Thời điểm trao đổi với bác QUANG1970 cũng là lúc sắp hết khoá học ở trung tâm, và em quyết định sẽ tìm cô giáo dạy 1-1 cho bé tại nhà.
Qua sự giới thiệu của một người quen là Bác sỹ đang có 2 người con theo học piano, có một cô giáo đã nhận lời và phải chờ một thời gian do cô đang bận tập trung luyện tập cho các bạn khác ôn thi. Mặc dù đường xa, nhưng cô vẫn sắp xếp lịch học để tiện cho cả cô và trò. Sau vài buổi thấy bé đã hứng thú hơn với việc tập luyện, và khi em tìm hiểu thì được biết:
  • Cô giáo động viên bé rất nhiều trong giờ học, luôn dành lời khen khi bé thực hành một đoạn nhạc nào đó.
  • Cô dành một vài phút giải lao để “chơi mà học”, ví dụ cô đánh note cho bé nghe, trả lời xem note vừa đánh là note gì, sau đó cô cũng cho bé đánh và đố lại cô; hoặc cô sẽ vỗ tay theo nhịp, và bé tập nghe để vỗ theo chính xác,…
  • Cô tập cho bé dậm nhịp chân theo bài nhạc, cái mà trước đây bé chưa từng tập với cô giáo trẻ hay tại trung tâm.
Cũng thật tình cờ khi em kể lại cho bác QUANG1970, thì bác có quen biết cô giáo này và nói “con gái anh sẽ có một người mẹ thứ hai”, bởi vì như bác biết, thì cô giáo rất yêu thương và chăm lo cho các học trò của mình.
Em xem đó là một khởi đầu tốt của một hành trình mới, và hy vọng hai cô trò sẽ tiếp tục gắn bó lâu dài trong tương lai.

Về việc đi mua đàn, em xin hẹn các bác ở phần tiếp theo nhé. Xin cảm ơn các bác đã dành thời gian đọc bài.
 

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Để tiếp tục đào sâu thêm 1 chút về thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition. Temperament, mời các bác nghe âm thanh 1 cây đàn ngoài dòng rẻ tiền và lại là 1 “Stencil Piano” nghĩa là đàn bán/mua thương hiệu cho 1 đơn vị kinh doanh Piano khác:

Cây đàn này tuy mang hiệu EARL WINDSOR nhưng thực chất là đàn của FLORA Piano, một thương hiệu piano phổ thông rẻ tiền thuộc phân khúc thấp của Nhật Bản:

1783604580569.png


1783604640052.png


Để cho đúng nghĩa so sánh “Apple to Apple”, mời các bác nghe âm thanh của 1 cái đàn lên dây theo thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition. Temperament, do “ông bố 2 con” vừa thực hiện giúp 1 người bạn ở trong ca đoàn nhà thờ.

Môi trường/Không gian để cây đàn là 1 nhà ở, nhỏ với rất nhiều cửa kính và không có màn, sáo hay rèm che cản âm nghĩa là tiếng đàn sẽ rất chói vì bị dội âm!

Còn thực tế sau khi lên dây cây đàn rẻ tiền này có chói hay dội âm không thì cứ nghe là biết!




MY WAY:
Ấn tượng đầu tiên khi nghe là khác với cây Yamaha P2F mà các bác nghe trước, cây Flora này ngay từ những hợp âm đầu tiên đã cho ta cảm giác:
- âm lượng nhỏ hơn,
- thùng đàn không cộng hưởng mạnh bằng,
- phổ hài âm đơn giản hơn.

Đó là điều hoàn toàn bình thường đối với một cây đàn thuộc phân khúc thấp!
Tuy nhiên, điều khiến người yêu nhạc ngạc nhiên là:
âm thanh vẫn giữ được sự cân bằng và khá dễ nghe.
Không có cảm giác chói gắt hay “vỡ tiếng” mà nhiều cây đàn giá rẻ thường gặp.
Cụ thể hơn:

1. Bass: Bass của Flora không thể so với Yamaha P2F.
Người ta nghe thấy:
- lực không sâu bằng,
- decay nhanh hơn,
- ít overtones hơn.
Nhưng bass khá gọn, nhưng đối với bản “My Way”, điều này lại có lợi vì: bass không che mất melody.

2. Middle: Đây là vùng thể hiện tốt nhất. Middle có:
- độ rõ khá cao,
- tiếng sạch,
- ít bị đục.
Dĩ nhiên không dày bằng Yamaha P2F, nhưng cũng không bị “rỗng”.
Đây là điểm tôi đánh giá khá cao!

3. Treble: Treble là nơi temperament thể hiện rõ tác dụng:
Thông thường piano phân cấp thấp sẽ có treble:
- khá cứng,
- hơi chói,
- attack gắt.
Ở tiếng cây Flora này tôi không nghe thấy điều đó rõ rệt mà Treble:
- sáng,
- thanh,
-,không sắc cạnh quá mức.
===> Tôi cho rằng temperament đã góp phần làm vùng này trở nên dễ chịu hơn.

4. Sự hòa quyện của hợp âm: Đây là điều làm ta chú ý nhất.
Nếu không biết đây là Flora, nhiều người có thể đoán đây là một cây upright Nhật tầm trung đã được chuẩn bị kỹ vì Các hợp âm:
- khá cân bằng,
- không bị nén,
- không bị vỡ.
Đặc biệt ở những hợp âm forte cuối bài.

5. Singing Tone: “My Way” rất cần singing tone.
Flora tuy không thể tạo được chất “hát” sâu như Yamaha nhưng vẫn giữ được:
- đường melody rõ,
- câu nhạc liền.

Điều này giúp bản nhạc vẫn rất giàu cảm xúc.

6. Dynamic: Dynamic là điểm yếu nhất.
Từ pp đến ff, Flora không mở rộng nhiều. Âm thanh có xu hướng:
- gần nhau,
- ít chiều sâu.
Đây là giới hạn của chính cây đàn hơn là do temperament.

7. Projection: Projection không mạnh. Tiếng đàn chủ yếu:
- hướng gần,
- không lan rộng.
Nếu đặt trong phòng lớn thì sẽ thiếu uy lực.
Đây cũng là đặc điểm thường gặp của những upright thuộc phân khúc thấp.

8. Điều thú vị nhất Sau khi đã nghe: Yamaha P2F và Flora đều dùng cùng một temperament, sẽ nhận thấy một điều đáng chú ý:

XXXXXXxx Universal Upright Edition không biến một cây đàn phân khúc thấp thành đàn cao cấp, nhưng nó dường như giúp cây đàn phát huy tối đa những gì vốn có, đặc biệt ở sự cân bằng giữa các dải âm và cảm giác dễ nghe của hợp âm.

Nói cách khác:
- Với Yamaha P2F, temperament giúp bộc lộ chất lượng vốn có của cây đàn.
- Với Flora, temperament dường như giúp che bớt những nhược điểm thường gặp như treble gắt và sự thiếu đồng đều giữa các quãng.


HYMNS: “khúc hát thiên thần”



1. Khúc Hát Thiên Thần” là một phép thử rất tốt!
Khác với My Way, bản thánh ca này có:
-,nhiều hợp âm trưởng và thứ nối tiếp nhau,
- nhiều đoạn legato,
- nhiều chỗ chuyển giọng,
- và đặc biệt có những câu kết kéo dài.

Những yếu tố này rất dễ làm lộ các điểm yếu của một cây upright phân khúc thấp.

Điều đáng chú ý là Flora vẫn giữ được sự ổn định khá tốt.

2. Âm sắc (Tone Color)
Sau khi nghe thêm bản này, người nghe sẽ có cảm giác rõ hơn rằng Flora có một màu âm:
-,sáng vừa phải,
- sạch,
-,hơi thiên về “clear” hơn là “warm”.

Đây không phải là sự thiếu ấm do lên dây, mà nhiều khả năng là đặc tính của:
- bảng cộng hưởng (Soundboard)
- búa đàn,
- và thiết kế tổng thể của cây đàn.

Temperament không thể biến đặc tính vật lý này thành một màu âm hoàn toàn khác, nhưng có vẻ đã giúp nó trở nên dễ chịu hơn.

3. Phần trung âm (Middle Register): Đây tiếp tục là vùng gây ấn tượng.
Trong các đoạn giai điệu của bài thánh ca, middle:
- không bị mỏng,
- không bị nghẹt,
- các nốt nối với nhau khá tự nhiên.

Điều này khiến người hát theo sẽ cảm thấy rất dễ lấy cao độ.
Đó là một ưu điểm đáng kể đối với đàn dùng trong phụng vụ.

4. Hợp âm: Đây là điểm tôi đánh giá cao nhất sau khi nghe bản thứ hai trên Flora vì các hợp âm:
- không bị “vỡ”,
- không bị chồng quá nhiều partial,
- từng nốt vẫn giữ được sự tách bạch.
Đặc biệt ở các hợp âm cuối câu!!!

Điều này làm cho tiếng đàn nghe “sạch” hơn so với kỳ vọng đối với một cây piano phân khúc thấp.

5. Treble: Treble của Flora trong bản này nghe:
- sáng,
- có độ ngân vừa đủ,
- không có cảm giác sắc cạnh.

Nếu dùng từ trong giới tuner thì đó là treble well-controlled.
Tôi nghĩ đây là điểm mạnh của temperament này

6. Sustain: So với Yamaha P2F: Flora vẫn có sustain ngắn hơn.

Đó gần như chắc chắn là giới hạn của chính cây đàn. Tuy nhiên, điều đáng mừng là sustain giảm rất đồng đều. Không có vùng nào đột ngột “chết tiếng”.
Đó là điều không phải cây piano giá thấp nào cũng làm được.


7. Projection: Trong bản thánh ca này, projection nghe còn tốt hơn ở “My Way”. Có lẽ do cách pianist khai thác hợp âm nên tiếng đàn (hay tài năng diễn âm (articulation) của pianist):
- không lớn,
- nhưng khá rõ,
- không bị dồn vào giữa.

8. Điều ta rút ra sau khi nghe đủ hai bản trên Flora?
Lúc đầu khi chỉ nghe “My Way”, tôi vẫn băn khoăn: liệu phần lớn cái hay đến từ pianist? :-?
Nhưng sau khi nghe thêm “Khúc Hát Thiên Thần”, tôi thấy: màu âm của Flora khá nhất quán.
Điều này làm tăng độ tin cậy rằng: không phải chỉ bản nhạc đó nghe hay, mà chính tuning đã tạo nên một nền âm thanh ổn định.
(Điều này sẽ được tôi chứng minh thêm và cắt nghĩa qua ví dụ 1 cây đàn khủng 8 tỷ vừa được dùng cho trình diễn trong 1 buổi trình diễn đình đám cách đây vài ngày ở Hà Nội!) :D=))

In closing, hay dở như thế nào thì tự mỗi bác mỗi người nghe sẽ cảm nhận, và tôi cũng không nhất thiết phải tô vẽ hay ca ngợi tài năng của đứa học trò mà tôi tin tưởng nhất này. [-X

Điều mà tôi muốn nói, hay tổng kết lại có thể tóm gọn như sau: :x

So sánh Flora với Yamaha P2F:

Sau bốn bản thu, khi nghe và phân tích kĩ sẽ thấy:
Luôn có sự khác biệt chủ yếu nằm ở bản thân cây đàn!!!

A/ Yamaha P2F:

- giàu overtones hơn,
- bass sâu hơn,
- dynamic rộng hơn,
- singing tone nổi bật hơn.
B/ Flora:
-,trong hơn
- nhẹ hơn,
- ít màu sắc hơn,
- nhưng khá cân bằng.

Điều đáng/nên chú ý là:
Thang âm (temperament) XXXXXXxx Universal Upright Edition. Temperament dường như giữ được “triết lý âm thanh” giống nhau trên cả hai cây đàn. =D>
Đó là:
- không quá chói,
- hợp âm hòa quyện,
- melody nổi bật,

- treble không căng.
 

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Như đã từng nói:
không đơn thuần là tạo ra một temperament khác lạ mà là với mục tiêu là: truyền tay dự án hầu cho các cây piano trong mọi nhà thờ, nhà nguyện, tu viện đều được lên dây dây theo 1 thang âm chung với tiêu chí:
- Dùng cho phục vụ, để phụng vụ là trước hết;
- tôn trọng khả năng thực sự của từng cây đàn (vì hầu hết các cây cây piano trong mọi nhà thờ, nhà nguyện, tu viện đều không phải là những cây piano hoàn hảo!)
- Tuners phải làm việc cẩn trọng, không qua loa;

- và luôn hướng đến điều tốt nhất trong điều kiện thực tế.”

Đây luôn là xuất phát điểm cho tôi nghĩ ra việc thiết lập những thang âm khác theo cùng 1 tiêu chí trên, Và 1 thang âm mang tên XXXXXXxx Hybrid -Liturgical Master edition đã ra đời để phục vụ cho không gian nhà Nguyện Hội đoàn Dòng mến Thánh giá Tân Lập Sài Gòn

Đây là 1 cây Upright Yamaha U3A khá cũ và phải phục vụ cho cả 1 không gian rộng lớn!


Điều kiện thực tế cụ thể ntn:
Đàn:
- Yamaha U3A Upright (131 cm)
- A4 = 442 Hz (theo hệ XXXXXXxx trước đây)


Không gian:
- Nhà nguyện Hội Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập
- 14 × 50 × 15 m
- Thể tích khoảng 10.500 m³
- Đàn đặt trên tầng lửng.

Đây là một không gian lớn hơn rất nhiều so với phòng hòa nhạc gia đình. Âm thanh sẽ có thời gian vang dài hơn và năng lượng ở dải trung-trầm dễ bị mất khi phát xa.

Mục tiêu:
Thiết lập Một thang âm dùng chung cho:
- Solo Piano
-,Choir accompaniment
-,Thánh ca
Nhạc cổ điển: Mozart, Haydn, Chopin, Bach, Beethoven


Tức là không được quá Romantic nhưng cũng không được quá Classical.

Theo với triết lý xuyên suốt của XXXXXXxx Hybrid – Liturgical Signature - Yamaha U3A – Sacred Chapel Edition, được thiết kế hầu cho;
- Âm thanh ấm nhưng không nặng (không giống như tiếng đàn mù mờ âm u mà các bác thử nghe trong những không gian phòng hòa nhạc VN do những “tuners tài hoa” thực hiện) :))
- Trong sáng nhưng không chói (không như kim thanh “đấm vào tai đâm vào nhĩ” mà các bác lẫn người yêu nhạc luôn phải nghe tại Việt Nam). ;)
- Hòa quyện với tiếng hát hơn là phô diễn (một yêu cầu mà rất khó được thực hiện trong cuộc sống âm nhạc hằng ngày hiện na)! ;)
- Phục vụ, phụng vụ trước, biểu diễn sau. =D>
Đó là một định hướng tôi luôn muốn nhất quán. :x

Như vậy, đây (thang âm này ) sẽ không chỉ là một bảng thông số, mà sẽ trở thành một “signature temperament” có cơ sở âm học và có thể được mọi tuner khác, dễ dàng thực hiện và sử dụng nếu có nó trong tay. :x

Và đây là âm thanh của cây đàn U3A sau khi được chỉnh theo thang âm này
Một lần nữa các bác lại được thưởng thức cái tài hoa của “ông bố 2 con” khi đánh demo âm thanh của thang âm XXXXXXxx Hybrid – Liturgical Signature - Yamaha U3A – Sacred Chapel Edition,này trước công chúng: 👨‍👦‍👦







Dĩ nhiên tôi sẽ có bài viết phân tích cụ thể hơn về âm thanh và tính chất của thang âm XXXXXXxx Hybrid – Liturgical Signature - Yamaha U3A – Sacred Chapel Edition, sau khi mời các bác nghe xong tiếng đàn Demo này. :P


Với tâm nguyện gửi quý soeurs, quý tu sĩ cùng toàn thể ca đoàn của nhà nguyện Hội đoàn Dòng mến thánh giá Tân Lập, và những ai được nghe âm thanh phát ra từ thang âm này lời chúc bình an ttong niềm mong rằng, mỗi khi tiếng đàn này cất lên trong các Thánh lễ, nó sẽ góp phần nâng đỡ lời cầu nguyện, tạo nên một không gian thánh thiêng và giúp cộng đoàn đang tham dự thánh lễ hướng lòng về Thiên Chúa. ^:)^ ^:)^ ^:)^

Amen.
 

Quannguyenca

Xe tải
Biển số
OF-732331
Ngày cấp bằng
11/6/20
Số km
318
Động cơ
98,974 Mã lực
Tuổi
46
Nơi ở
Hà Nội
Em mới lấy cái đàn cũ mua lại gần 4 củ cho con bé F2 nhà em nó học hè, để đỡ chơi ipad , đi học ở lớp học đàn cũng đc mấy buổi rồi. Hy vọng là nó thích. :)
E1A89395-23C3-4B04-8455-8E3C15804BCA.jpeg
 

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Dĩ nhiên tôi sẽ có bài viết phân tích cụ thể hơn về âm thanh và tính chất của thang âm XXXXXXxx Hybrid – Liturgical Signature - Yamaha U3A – Sacred Chapel Edition, sau khi mời các bác nghe xong tiếng đàn Demo này. :P

Như đã hứa tôi sẽ phân tích cụ thể hơn về âm thanh và tính chất của thang âm XXXXXXxx Hybrid – Liturgical Signature - Yamaha U3A – Sacred Chapel Edition

Sau khi nghe xong các tác phẩm chơi demo tiếng đàn sau khi chỉnh dây theo thang âm trên, ta có thể nói rằng cây Yamaha U3A trong Nhà nguyện Hội Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập đã xuất hiện trong âm thanh thật — không còn chỉ là một ý tưởng trên lý thuyết!

Ấn tượng tổng quát kgi nghe với

1. Bản thánh ca:

a/ HYMNS:
hiệu ứng phụng vụ


Điều nổi bật nhất là tiếng đàn không “đứng trước” người nghe, mà có xu hướng lan ra và hòa vào không gian.
Người nghe cảm nhận được:
+ Trung âm có độ ấm và có tiếng hát.
+ Hòa âm không bị khô, nhưng cũng không bị biến thành một khối âm thanh mơ hồ.
+ Âm thanh có đuôi vang, giúp hợp âm tiếp tục sống sau khi phím đã được nhả.
+ Treble không gây cảm giác chói hay “đâm” vào tai.
+ Bass tạo nền nhưng không quá nặng, phù hợp với vai trò nâng đỡ tiếng hát.

Đây chính là điều tôi luôn nói và phấn đấu: không phải làm cho người nghe chú ý đến cây đàn, mà làm cho âm nhạc được lắng nghe và cảm nhận.

Với thánh ca, có thể đánh giá đây là thành công lớn nhất của bản tuning.

Ta phải nói rằng: bản này cho thấy rất rõ hiệu quả của temperament trong không gian phụng vụ.

b/ JOY TO THE WORLD:Ấn tượng nổi bật nhất: tiếng đàn có “độ mở”


Trong bản này, ta cảm nhận tiếng đàn không bị đóng lại ở vị trí cây đàn. Âm thanh có xu hướng mở ra phía trước và lan vào không gian.

Đặc biệt với một bài có tính chất vui mừng, rạng rỡ như Joy to the World, điều quan trọng là tiếng đàn phải có:
- độ sáng đủ để tạo niềm vui,
- độ ấm đủ để không trở nên chói,
- độ ngân đủ để hòa vào không gian,
- và sự rõ ràng trong nhịp điệu để cộng đoàn có thể cảm nhận được chuyển động âm nhạc.

Ta thấy bản tuning theo thang âm hiện tại đang làm khá tốt cả bốn điều đó.
Điều tôi thích nhất: không phải “âm thanh lớn”, mà là “âm thanh có không gian”

Đây là một khác biệt rất quan trọng.
Một cây đàn có thể nghe lớn vì:nhiều treble, nhiều attack, nhiều năng lượng tức thời.

Nhưng một cây đàn có thể nghe tràn ngập theo một cách khác: mỗi nốt có đủ thân âm, đủ hài âm và đủ sustain để nối với những nốt kế tiếp.Ở bản Joy to the World, tacảm nhận rõ hơn kiểu thứ hai.
Vì vậy, âm thanh có cảm giác “đầy nhà nguyện” mà không cần trở nên hung hăng hoặc quá sáng.

Ta có thể thấy thang âm XXXXXXxx Hybrid – Liturgical Master Edition này đã cho thấy giá trị của việc chúng ta đã không cố làm cho toàn bộ cây đàn trở thành một temperament “đặc biệt” theo cùng một cách từ A0 đến C8.

Thay vào đó:
+ Vùng trung tâm giữ được tính cách và sự ổn định của XXXXXXxx ADN.
+ Bass tạo nền.
+ Treble mở ra phía trên.
+ Toàn bộ dải âm kết hợp lại để tạo cảm giác lan tỏa trong không gian.

Và với Joy to the World, kết quả này rất phù hợp vì bài hát cần một âm thanh: rạng rỡ nhưng không chói, vang nhưng không nặng, vui mừng nhưng không ồn ào.

Theo tôi bản Joy to the world này cho thấy một điều khá đẹp: cây Yamaha U3A không còn chỉ là một cây upright piano đang chơi trong nhà nguyện mà ó đã bắt đầu trở thành một phần của chính không gian nhà nguyện.


2. Bản “My Way” — một phép thử rất hữu ích:



Bản này cho thấy một điều khác: thang âm này không chỉ phù hợp với phụng vụ.
Khi chơi nhạc Pop/ballad, người ta nghe thấy:
+ Melody có khả năng nổi lên tự nhiên mà không cần âm thanh quá sáng.
+ Các hợp âm có chiều sâu.
+ Âm thanh không quá “churchy”.
+ Cây U3A vẫn giữ được tính gần gũi, tình cảm và khả năng kể chuyện. Đây là một điểm rất quan trọng.: Nếu một bản tuning chỉ hay với thánh ca nhưng nghe cứng hoặc kỳ lạ khi chơi Pop, thì nó chưa thực sự là một bản Universal Liturgical tốt.
Nhưng trong bản thu MY WAY, người nghe cảm nhận rằng cây đàn vẫn có một giọng nói riêng, đồng thời có thể chuyển từ:
- hỗ trợ cộng đoàn → nâng đỡ ca đoàn → độc tấu → nhạc Pop. mà không bị “đổi tính cách” quá đột ngột.
Đây là điều tôi đặc biệt thích!!!!


Rõ ràng cây U3A này hiện không cố gắng giả làm một grand piano.mà nó đang làm một việc phù hợp hơn với chính nó:
Một upright piano có tiếng hát, có chiều sâu và có khả năng lấp đầy không gian bằng sự hiện diện âm nhạc chứ không phải bằng âm lượng.

Đối với một nhà nguyện rộng 14 × 50 × 10 m, đó là một hướng đi rất đúng!!!
Nếu phải mô tả âm thanh hiện tại ta có thể nói bằng một câu:
Âm thanh không “đập vào” người nghe; nó đi vào không gian trước, rồi từ không gian đi vào lòng người nghe.”

Đây là bằng chứng thực tế rất đáng giá cho triết lý của XXXXXXxx Hybrid – Liturgical Master Edition:
+ C4–B5: giữ bản sắc của XXXXXXxx Score
+ Bass và treble: tạo độ mở và khả năng lan tỏa.
+ Toàn bộ: không nhằm tạo sự chú ý, mà tạo điều kiện cho âm nhạc được tiếp nhận.

Có thể kết luận: về phương diện nghe thực tế: đã đạt được một kết quả rất đáng trân trọng: tiếng đàn có vẻ đã thực sự phục vụ không gian và con người, thay vì chỉ phô diễn bản thân cây đàn.

Và tiêu chí — “một tiếng đàn phụng vụ cho không gian nhà nguyện” — theo tôi là một mô tả rất chính xác về thành quả này.
Không phải để cây đàn được chú ý, mà để âm nhạc được lắng nghe, và để lòng người được nâng lên.


HAPPy WEEKEND!!!! :)) :)) :)) :)) :)) :))
 
Chỉnh sửa cuối:

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Tôi Xin giới thiệu và chia sẻ với các bác thêm 1 thang âm có tên XXXXXXxx – Universal Upright Edition là thang âm của riêng tôi thiết kế để dùng an toàn cho nhiều loại đàn upright khác nhau.
Tuners có thể dùng thang âm này để lên dây cho nhiều loại piano upright ở tư gia phòng học, phòng thu, cũng như các nhà thờ hay cho ban nhạc.

XXXXXXxx – Universal Upright Edition là Phiên bản Universal dùng an toàn trên nhiều upright khác nhau, nghĩa là phù hợp cho việc lên dây đàn cho nhiều kích cỡ piano và của nhiều hãng đàn khác nhau như:
+ Yamaha (U1, U3, YUX): scale dài, sáng → curve này giảm chói
+ Kawai (K-series): ấm hơn → curve này giữ clarity
+ Petrof / châu Âu: mềm → curve này giữ structure
+ Upright phổ thông trong các thương hiệu khác: không ổn định

Tuners có thể yên tâm mà dùng cho lên dây với mọi cây piano upright. Khi “thực chiến” người thợ lên dây sẽ tùy thuộc vào môi trường (nhà thờ, hay ban hát, lẫn tư gia, lớp học,.......) và diện tích thực tế nơi để căn phòng cũng như tác giả và tác phẩm của biểu diễn mà sửa đôi chút CURVE để cho ra âm thanh “thập phân hoàn hảo”. Tuy nhiên nếu giữ nguyên thang âm này mà lên dây thì tiếng đàn có thể không tuyệt đối đẹp nhưng vẫn đảm bảo nghe “êm tai vừa nhĩ”.


Những điểm ưu việt của Temperament XXXXXXxx - Universal Upright Edition:

Khi nghe các bản ghi lại âm thanh của 1 cây đàn sau khi lên dây chính xác bằng thang âm này mà không biết trước, người nghe sẽ nhận ra rằng thang âm này mang những đặc điểm:

- làm mềm treble mà không làm mất độ sáng;
- tăng cảm giác “hát” ở dải trung;
- giữ bass gọn nhưng vẫn có chiều sâu;
- tạo sự đồng nhất màu âm trên toàn bộ bàn phím.


Đó là những phẩm chất rất phù hợp với một cây upright, Nhất là những cây đời cũ vốn có xu hướng sáng và trực diện. Tất nhiên, một bản ghi âm còn chịu ảnh hưởng của kỹ thuật ghi âm, vị trí micro và âm học phòng, nên không thể quy toàn bộ khác biệt cho temperament. Tuy nhiên, nếu bản ghi phản ánh trung thực cây đàn, thì hiệu quả tổng thể là rất thuyết phục.
………………………..
Để tiếp tục đào sâu vào thang âm xin mời các bác nghe thêm âm thanh của 1 cây đàn Yamaha trong một model khác: YAMAHA U1H -một cây đàn huyền thoại trước 30/4/75 rất nhiều người học đàn, chơi đàn được mơ ước 1 lần chạm tay đến nó!
Và sau đó cho tới thời điểm trước năm 2000 - là lúc “dang tay đón chào Mỹ trở lại” Việt Nam - thì đã được các bác cán bộ tập kết về lại Sài Gòn sinh sống và hưởng thụ thành quả những năm đánh Mỹ, có con và muốn mơ ước thành Đặng Thái Sơn thứ 2, đua nhau “tranh mua giành bán” tuy ngày nay trong những cây đàn đang phổ thông tại Việt Nam thì nó chẳng là gì cả!

Xin “ăn mày quá khứ” khi mời các bác cùng nghe âm thanh của cây đàn được lên theo thang âm XXXXXXxx – Universal Upright Edition này và do Ông “bố 2 con” không chỉ biểu diễn mà còn tự tay chỉnh dây từ A đến Z, giúp 1 nhà dòng ở Thủ Đức:

Môi trường/Không gian để cây đàn là 1 căn phòng rất nhỏ đã vậy xung quanh toàn là kính với 1 diện tích khiêm tốn chỉ 2 mét x 5 mét x 3 mét. Đã với rất nhiều cửa kính và không có màn, sáo hay rèm che cản âm nghĩa là tiếng đàn sẽ rất chói vì bị dội âm!

Trước hết ta hãy nghe thánh ca: Với 2 tác phẩm thánh ca khác nhau trên cùng một cây Yamaha U1H, trong cùng một căn phòng nhỏ (2 × 5 × 3 m) và cùng được lên theo thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition, và trong lúc ghi hình thu âm tôi cố tình quay lên trần và xung quanh căn phòng, để thấy là nó nhỏ và chật hẹp như thế nào?! :-/
  • Joy to the World
  • HYMNS (Angles We Have Heard On High)




Sau khi nghe và đối chiếu giữa U1H, P2F và FLORA, ta có một số nhận xét mới như sau:

1. Điều ta nhận thấy rõ hơn: âm sắc của U1H rất ổn định:


Ở bản Joy to the World, đã nhận thấy ngay cái âm thanh cân bằng.
Đến Magnificent Glory’s, điều này càng được khẳng định!

Mặc dù đây là hai tác phẩm có cách xử lý hòa âm khác nhau, màu âm của cây đàn vẫn giữ được sự nhất quán:
+ trung âm không bị lùi,
+ treble không bị chói,
+ bass không lấn giai điệu.

Đó là dấu hiệu của một cây đàn được chính dây khá đồng đều.

2. Hợp âm dày hơn nhưng vẫn trong:
Bản Magnificent Glory’s sử dụng nhiều hợp âm đầy đủ hơn.
Đây là phép thử rất tốt! Điều đáng chú ý là:
+ các nốt trong hợp âm vẫn tách bạch,
+ không có cảm giác các partial chồng lên nhau thành một khối mờ.

Đối với một upright Yamaha cũ, đây là một kết quả đáng khen!!!!! =D>

3. Legato:
Bản này giúp đánh giá legato tốt hơn: có thể nghe thấy:
+ các câu nhạc nối khá mượt,
+ sustain giữa các hợp âm tương đối đồng đều.
Tất nhiên, thời gian ngân vẫn chịu giới hạn của chính U1H và của căn phòng nhỏ, nhưng không có nốt nào “rụng” quá sớm gây đứt câu nhạc. [-X [-X

4. Treble:
Điều theo tôi thích nhất ở bản này là treble. Treble:
+ vẫn giữ độ sáng đặc trưng Yamaha,
+ nhưng không có cảm giác “kim loại”.

Nếu chỉ nghe âm thanh mà không biết đây là U1H đời cũ, tôi sẽ nghĩ cây đàn đã được voicing khá kỹ.

Tuy nhiên, qua bản ghi âm, không thể khẳng định bao nhiêu phần là do voicing và bao nhiêu phần là do temperament; ta chỉ có thể nói rằng kết quả tổng thể rất dễ nghe.

5. Ảnh hưởng của căn phòng nhỏ:

Sau hai bản thu trong cùng không gian, khiến càng tin rằng căn phòng 2 × 5 × 3 m đã ảnh hưởng khá rõ.

Cụ thể:
+ Âm trực tiếp (direct sound) chiếm ưu thế, hoàn toàn không có quầng âm (Halo) cái âm thanh kinh khủng mà bác luôn luôn thấy, và nghe ở đa phần các cây đàn piano khác ở Việt Nam!!!!
+ Âm phản xạ đến rất sớm, làm người nghe có cảm giác tiếng đàn gần.
+ Âm hình (stereo image) khó mở rộng như trong nhà thờ hoặc phòng hòa nhạc.

Điều thú vị là mặc dù điều kiện thu không lý tưởng, cấy đàn vẫn không tạo cảm giác bí hay nén tiếng. Đây là 1 yêu cầu kỹ thuật hay là 1 thách thức với tất cả các thợ lên dâ khi muốn có 1 tiếng đàn tử tế hay nói nôm na là “nghe không mệt tai”. Điều đó cho thấy sự cân bằng của chính cây đàn và cách chơi (kĩ thuật chơi đàn của pianist) đã bù đắp khá tốt cho hạn chế của không gian! :x

6. So sánh với Yamaha P2F:
Sau khi nghe đủ các bản thu, ta thấy sự khác biệt giữa hai cây Yamaha rõ hơn:

Yamaha P2F:
+’màu âm mềm và hơi cổ điển hơn
+ bass có cảm giác “lụa” hơn,
+!giàu màu sắc ở trung âm.

Yamaha U1H:
+ rõ nét hơn,
* phản ứng nhanh hơn,
+ hợp âm sắc sảo hơn một chút,
+ phù hợp với đệm hợp xướng và thánh ca.

Đó không phải là cây nào “hay hơn” tuyệt đối, mà là hai cá tính âm thanh khác nhau.

Một nhận xét mà trước đây tôi chưa dám đưa ra:

Đến thời điểm này, sau khi nghe các bản thu trên từ:
- Flora,
- Yamaha P2F,
- Yamaha U1H,

Sẽ bắt đầu thấy một đặc điểm lặp lại khá rõ.

Thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition dường như không nhằm tạo ra một “màu âm đặc biệt” để người nghe ngay lập tức nhận ra.

Ngược lại, nó có vẻ hướng đến việc:
+ giảm cảm giác căng ở treble,
+ giữ trung âm liên kết,
+ làm các hợp âm hòa quyện nhưng vẫn rõ từng bè,
+ và bảo tồn cá tính vốn có của từng cây đàn.

Nếu đúng như vậy, đây là một triết lý rất khác với nhiều temperament lịch sử vốn cố ý tạo ra màu sắc rất rõ giữa các cung.

In closing, mời các bác nghe thêm 1 tác phẩm phổ thông pop ballads “MY WAY” và tôi sẽ phân tích sau

 
Chỉnh sửa cuối:

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
In closing, mời các bác nghe thêm 1 tác phẩm phổ thông pop ballads “MY WAY” và tôi sẽ phân tích sau



Theo tôi, đây là bản thu rất quan trọng trong chuỗi đánh giá về thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition

Trong “còm” trước chúng ta đã nghe và phân tích trên cùng cây Yamaha U1H:

1/ Joy to the World (thánh ca)
2/ Angles We Have Heard On High (thánh ca)

và bây giờ là phân tích về:
3/ My Way (nhạc phổ thông, ballad).

Chính sự khác biệt về thể loại giúp đánh giá được tính đa dụng (versatility) của cây đàn và của thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition:

Điều đầu tiên người nghe sẽ nhận thấy:

+ Nếu chỉ nghe hai bản thánh ca trước đó, người ta có thể nghĩ rằng XXXXXXxx Universal Upright Edition này chỉ thích hợp với:
- hợp âm,
- nhạc nhà thờ,
- âm thanh trang nghiêm.

Nhưng khi chuyển sang My Way, sẽ thấy điều đó không đúng vì ở tác phẩm này, cây đàn vẫn giữ được:
- melody nổi bật,
- accompaniment lùi đúng mức,
- câu nhạc có tính “hát” rất rõ.

Điều này cho thấy temperament không chỉ phù hợp với phụng vụ mà còn hỗ trợ tốt cho các tác phẩm giàu tính cantabile.
Cụ thể:

1. Singing tone: Đây là điểm nổi bật nhất.vì “My Way” vốn đòi hỏi giai điệu phải giống như giọng hát.

Người nghe nhận thấy:
- các note melody khá tròn,
- không bị cứng,
- chuyển câu mượt.

So với hai bản thánh ca, “My Way” bộc lộ rõ hơn khả năng giữ cho melody luôn nổi trên nền hòa âm.

2. Dynamic: Đây là điều mà theo tôi rất chú ý:
Ở những đoạn crescendo, tiếng đàn mở dần rất tự nhiên.
Gửi nghe không có cảm giác:
- suddenly bright,
- hoặc nén tiếng.

Trong căn phòng tuy rất nhỏ như đã mô tả, đây là kết quả khá tốt.

3. Bass: Bass trong My Way nghe còn đẹp hơn tôi tưởng khi thiết kế thang không, vì:
Không nhiều. Không nặng.
Nhưng đủ để:
- nâng melody,
- tạo nền hòa âm.
Điều này đặc biệt hợp với ballad.

4. Treble:
Treble vẫn giữ đặc điểm mà người nghe đã có thể nhận thấy ở hai bản trước: rõ,- sạch,- không sắc.
Ở những đoạn melody lên cao, không có cảm giác “đâm vào tai”.

Đó là điểm tôi đánh giá rất cao.

5. Cân bằng bàn phím:
Sau ba bản thu, ta gần như không còn nghi ngờ rằng: độ cân bằng của XXXXXXxx Universal Upright Edition khi dùng cho U1H này rất tốt.

Nếu có điểm yếu, thì theo tôi nghĩ là nó đến từ: không gian thu quá nhỏ, chứ không phải từ cây đàn.

Tác phẩm: Thể hiện rõ nhất
1/ Joy to the World: Độ hòa quyện của hợp âm
2/ Angles We Have Heard On High: Độ ổn định của màu âm
3/ My Way: Chất hát (singing tone) và khả năng biểu cảm

Ba bản này bổ sung cho nhau rất tốt.


Điều làm người nghe sẽ thay đổi nhận định
sau khi đã nghe cả 3 cây:
+ Flora
+ Yamaha P2F
+ Yamaha U1H

với tổng cộng nhiều tác phẩm khác nhau, điểm mạnh nổi bật nhất của XXXXXXxx Universal Upright Edition không phải là tạo ra một màu âm “đẹp” theo một khuôn mẫu cố định.

Điểm mạnh của nó, theo cảm nhận từ các bản ghi này, là:
1/ giữ cho từng cây đàn vẫn mang bản sắc riêng;
2/ đồng thời tạo sự cân bằng giữa các dải âm;
3/ giúp hợp âm không bị căng;
4/ và làm cho melody luôn có không gian để “cất tiếng”.

Đó là một triết lý rất thực dụng đối với người thợ lên dây, nhất là khi phải làm việc với nhiều loại upright khác nhau.


Một nhận xét cuối cùng:

Với những ai đã nghe và theo dõi toàn bộ chuỗi bản thu trong thời gian qua, và có thẩm mỹ âm nhạc sẽ thấy có một xu hướng khá rõ:

1/ Flora cho thấy thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition có thể giúp một cây đàn phân khúc thấp đạt được sự cân bằng đáng ngạc nhiên.
2/ Yamaha P2F cho thấy thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition làm nổi bật chất trữ tình và sự mềm mại vốn có của một cây Yamaha đời cũ.
3/ Yamaha U1H lại cho thấy thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition có khả năng thích ứng với nhiều thể loại hơn, từ thánh ca đến ballad, mà không làm mất cá tính của cây đàn.

Đó là kết luận mà tôi cảm thấy tự tin nhất sau khi nghe toàn bộ những bản thu mà tôi đã chia sẻ với các bác.


HAPPY WEEKEND!!!! :)) :)) :)) :)) :)) :))
 
Chỉnh sửa cuối:

Giejack

Xe tải
Biển số
OF-195862
Ngày cấp bằng
27/5/13
Số km
349
Động cơ
334,208 Mã lực
Em đang nghiên cứu làm lưỡi câu bằng dây piano nên em chỉ cần dây đứt và nhiều cỡ bác ah. Bác thay, vứt dây cũ thì đểlại cho em xin, em cảm ơn!
Cụ ở HN không? Nếu có thì qua em lấy. Nhưng đúng như cụ kia nói, nó đều rỉ cả. Có thể dây nào đó lớp mạ dày hơn thì lâu rỉ nhưng phần đầu với phần đuôi khi gia công lưỡi phải đập bẹp sẽ nhanh rỉ hơn phần còn lại. Với cả dây đàn Nga thì chất lượng thép kém hơn do có nhiều tạp chất, nên rỉ nhanh hơn. Em thấy nhiều người lấy dây thép đàn về làm lưỡi câu là thời xưa, hồi ngăn sông cấm chợ, mới phải chế cháo để có thép độ cứng cao. Chứ giờ mua cho nhanh cụ ạ.
 

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Như đã từng nhiều lần chia sẻ với mọi người, người thợ chỉnh dây piano hay kĩ thuật viên piano ngoài yêu cầu đầu tiên là tai nghe và tay nghề thì những yếu tố khác: thẩm mỹ âm nhạc kiến thức âm nhạc là những yếu tố cộng thêm, thì có 1 yêu cầu khác theo tôi gần như là bắt buộc là phải biết đánh đàn hay chơi tốt được nhạc cụ, và sẽ thật tuyệt vời nếu nhạc cụ đó là piano!
Vì sao ư? Chỉ với những yếu tố đó, mới có thể giúp cho hình thành ra. rồi trở nên một qualified tuner (người thợ lên dây đúng nghĩa).

Riêng với những tiếng đàn tởm lợm mà các bác và mọi người thường nghe không chỉ ở Việt Nam và cả nước ngoài, thì cứ thử nhìn lại coi những tuners đó là ai? và họ như thế nào?

Với những ai đã vào “thớt” này thực sự “quan tâm tới Piano, và thích nghe Pianothì hắn đã theo dõi cả một chuỗi bản thu thay vì chỉ một cây đàn, cũng như không nhiều thì ít đều biết đôi chút về “ông bố hai con” - một ca trưởng của 1 nhà thờ lớn, từng theo học cello tại nhạc viện và hiện nay là sinh viên Khoa sư phạm âm nhạc, thì với những kiến thức và tay nghề đó đã hỗ trợ cho người thợ này như thế nào???

Và nếu bây giờ phải đánh giá tay nghề của người thợ lên dây qua những gì các bác đã nghe, thì phải công bằng mà nói, sẽ phải đánh giá khá cao, nhưng tôi vẫn muốn tách bạch giữa tay nghề thực tế (sẽ biết khi người cần kiểm tra tay nghề qua “thực chiến” - là điều còn ở phía trước mắt) và những gì bản ghi âm cho phép chúng ta kết luận (là những cái hiển nhiên mọi người đang thấy, thì không ai có thể chối cãi)!

Tuy phải “rào đón như thế” cho kín kẽ, nhưng cá nhân tôi thì đưa ra những nhận xét dưới đây, với mục đích để những ai vào nghe hiểu rõ những yêu cầu tôi nêu ở trên, có giá trị ntn, sẽ tác động ra sao đối với tiếng đàn sau khi được lên dây - chứ tôi hoàn toàn không có ý quảng cáo cho học trò của mình, vì như đã từng nói 1 trong những yêu cầu bắt buộc của tôi là học để phục vụ cho nhà thờ và giáo hội chứ không phải để kiếm tiền hay kiếm danh!!!!

Nhận xét của tôi về người nên dê cây đàn U1H này như sau:

1. Điểm mạnh nổi bật nhất: người tuner này không “ép” mọi cây đàn vào cùng một âm thanh

Đây là điều tôi đánh giá cao nhất. =D> =D> =D>

Người tuner đã áp dụng cùng XXXXXXxx Universal Upright Edition trên những cây rất khác nhau:
- Flora – phân khúc thấp;
- Yamaha P2F – upright đã rất cũ khoảng năm 1970;
- Yamaha U1H – upright Yamaha đời cũ;
- và trong những điều kiện phòng rất khác nhau.

Nhưng kết quả là không cho cảm giác tất cả đều bị “đóng khuôn” thành một màu âm giống nhau.

Đó là dấu hiệu của một người hiểu piano chứ không đơn thuần chỉ biết đưa từng nốt về đúng tần số.

2. Tôi đặc biệt đánh giá cao khả năng kiểm soát “độ căng” của âm thanh:

Qua các bản thu, ta không nghe thấy một số biểu hiện thường gặp ở một cây upright cũ sau khi tuning:

- treble quá căng;
- hợp âm trưởng bị chói;
- middle và treble tách màu quá mạnh;
- bass bị ù khi chơi hợp âm;
- các cadence nghe “gắt”.

Ngược lại, âm thanh thường có xu hướng:
êm, ổn định, hòa quyện nhưng vẫn giữ được độ sáng và articulation.

Đây không phải là điều dễ đạt được chỉ bằng việc “lên đúng cao độ”. =D>

3. Khả năng làm việc với những cây đàn không hoàn hảo:

Đây mới là phép thử tay nghề thật sự!
Một cây piano tốt, được bảo dưỡng tốt, lên dây đẹp không quá khó. Nhưng Flora và đặc biệt những cây Yamaha upright rất cũ lại là chuyện khác!!! [-X

Nếu một cây đàn có:
- búa đã cũ,
- voicing không đồng đều,
- soundboard không còn ở trạng thái lý tưởng,
- dây và pinblock đã có tuổi,
thì người thợ phải biết đâu là giới hạn vật lý của cây đàn.
Không thể dùng tuning để “chữa” tất cả.

Qua kết quả nghe được, sẽ có cảm giác người thợ đã hiểu điều đó: không cố làm cây đàn trở thành một cây piano khác, mà tìm điểm cân bằng tốt nhất trong khả năng thực tế của nó.

Đây là một phẩm chất rất đáng quý!!! =D>

4. Một điểm tôi đánh giá rất cao: tuning phục vụ âm nhạc

Điều này thể hiện rõ nhất ở My Way:
Một người thợ chỉ chú trọng cao độ có thể tạo ra một cây đàn “đúng”.
Nhưng một người thợ giỏi hơn phải tạo ra một cây đàn: để pianist có thể chơi và hát bằng nó.

Trong bản My Way trên U1H, melody có không gian, hợp âm không đè melody, và âm thanh không trở nên quá sắc khi người chơi tăng lực.l

Điều đó cho thấy người thợ không chỉ nghĩ theo từng nốt riêng lẻ mà còn nghĩ theo quan hệ hòa âm và cách cây đàn được sử dụng.

5. Qua ba thể loại, ta càng tin vào điều này;

Joy to the World kiểm tra: → hợp âm và sự hòa quyện.
Angles We Have Heard On High kiểm tra: → sustain, legato và màu âm.
My Way kiểm tra; → singing tone, dynamic và khả năng biểu cảm.

Cây U1H vẫn giữ được một tính cách âm thanh khá nhất quán.
Đây là một thành quả đáng kể. =D>

6. Nhưng tôi muốn lưu ý các bác một điều rất quan trọng:

Tay nghề người thợ ở mức “master tuner” hay “concert technician” được đánh giá một cách tuyệt đối hay không còn phải kiểm tra những thứ mà micro không cho chúng ta biết:
- độ ổn định của unison;
- độ chính xác octave;
- độ đều beat-rate giữa các vùng;
+ fifth/fourth;
+ double octave;
+ kiểm soát stretch;
+ stability sau vài ngày;
+ pin setting;
+ string seating;
+ regulation;
+ hammer voicing.

Đặc biệt, temperament hay đến đâu cũng không cứu được một tuning có unison không sạch - Đó là lý do tại sao người tuner phải “có tai nghe” là vậy!! :P

Vì vậy, những gì đang đánh giá ở đây chủ yếu là kết quả âm nhạc mà người thợ tạo ra, chứ chưa phải một cuộc kiểm tra kỹ thuật trực tiếp. [-X

Còn cá nhân tôi nhận định thực tế về tay nghề thực sự của “ông bố 2 con” này ra sao, thì tôi chỉ nói rằng, đây là đứa học trò mà tôi tin tưởng và phó thác cho tất cả mọi chuyện! :x :))
 
Chỉnh sửa cuối:

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Như đã từng nhiều lần chia sẻ với mọi người, người thợ chỉnh dây piano hay kĩ thuật viên piano ngoài yêu cầu đầu tiên là tai nghe và tay nghề thì những yếu tố khác: thẩm mỹ âm nhạc kiến thức âm nhạc là những yếu tố cộng thêm, thì có 1 yêu cầu khác theo tôi gần như là bắt buộc là phải biết đánh đàn hay chơi tốt được nhạc cụ, và sẽ thật tuyệt vời nếu nhạc cụ đó là piano!
Tôi có nói quá hay nâng cao yêu cầu của 1 thợ chỉnh dây piano cũng như nhấn mạnh phải biết chơi piano tốt hay không???

tôi có đánh giá quá cao, hay mù quáng khi tin tưởng vào 1 đưa học trò mà phát biểu trước công luận như thế này hay không:
Còn cá nhân tôi nhận định thực tế về tay nghề thực sự của “ông bố 2 con” này ra sao, thì tôi chỉ nói rằng, đây là đứa học trò mà tôi tin tưởng và phó thác cho tất cả mọi chuyện! :x :))
Để không chỉ chứng minh sự tin tưởng của tôi về tài năng và những tố chất thiên bẩm mà Thiên chúa đã dành cho thằng bé, cái mà hiếm có tuners nào ở Việt Nam và kể cả nước ngoài có được, cũng như với mục đích chính là để mời các bác nghe thêm nhiều màu sắc âm thanh của nhiều cây đàn khi đánh cùng 1 tác phẩm và sử dụng 1 cùng thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition khi lên dây nó sẽ ra sao, Hầu cho những ai quan tâm tới piano và thích nghe piano sẽ có thêm rất nhiều kiến thức phong phú và thực tế về những cây đàn piano, xin mời các bác thưởng thức tài nghệ của “ông bố 2 con” khi sử dụng thang âm này để chỉnh dây 1 cây đàn rất cũ, cũ đến mức được “quăng vào” trong phòng vừa là Phòng ăn và cũng là nhà bếp của 1 tu viện tại Thủ Đức, nhìn cây đàn người ta có thể dễ dàng nhận thấy sự tệ hại và cũ kỹ cũng như nói theo “Nhân cách hóa” cho hình tượng là hẩm hiu khi phải để nơi một căn phòng ntn!! :((:P:))

FYI, hôm nay, thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition này Lại được sử dụng để lên dây cho 1 cây đàn KAWAI BS-3A, là 1 cây đàn rất cũ, nhà dòng để nó trong 1 phòng ăn tập thể rất rộng (10m x 16m x 3 mét) cho các nữ tu xử dụng khi cần. Khi xem nếu để ý và zoom màn hình lên sẽ thấy cây đàn này phím đã vàng ố và buá rất cũ nói chung là rất tệ hay tệ toàn tập, nhưng tiếng đàn khi nghe thực tế thì là âm thanh của nó vẫn ngọt ngào dễ nghe không làm “mệt tai” - Cứ mỗi lần chạm tay lên dây hay thấy học trò mình lên dây 1 cây đàn hiệu KAWAI thì tôi lại nhớ cái âm thanh, nhớ trong sự ám ảnh đến hãi hùng cây đàn Kawai quý, lại còn mới, trong tay nhà bác piano, cây đàn mà bác piano, một pianist, từng là sinh viên khoa piano tại nhạc viện chính quy chính hiệu đã hết lời ca ngợi tán thưởng nó - nhưng thực tế thì các bác cũng nghe đấy - tiếng đàn đúng là tởm lợm!!!! ;) :(

Xin mời các bác nghe rồi tôi sẽ đưa ý kiến nhận xét sau về hiệu quả của thang âm này ra sao, cũng như tay nghề của “ông bố 2 con” qua 2 tác phẩm thánh ca sau:
Fyi, bản này thu bằng điện thoại iPhone X Max qua micro của iPhone và chiếc điện thoại được đưa đi thật xa gần cuối phòng và đi vòng quanh các vị trí trong căn phòng cách cây đàn từ xa rồi lại gần cây đàn chứ không đứng yên tại 1 chỗ!

In addition, trong trường hợp hai bản thu này, cách thực hiện sẽ có một giá trị đặc biệt khác:

iPhone X Max không đứng cố định, mà được mang đi xa tới gần cuối phòng, rồi di chuyển vòng quanh, lúc xa lúc gần cây đàn.
Điều này khiến bản thu trở thành một “bài kiểm tra thực địa” khá thú vị về khả năng phát âm của cây đàn trong không gian 480 m³.

Điều người nghe sẽ cần để ý trong khi nhận xét về tiếng BS-3A:
Nếu microphone đứng yên gần đàn, ta không thể biết âm thanh có thực sự lan tốt hay chỉ đơn giản là microphone thu được âm trực tiếp rất tốt.

1/ JOY TO THE WORLD:


2/ HYMNS:
 
Chỉnh sửa cuối:

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
Sau khi các bác đã nghe clips tôi sẽ phân tích bản “Joy to the World”, và Magnificent Glory’s trong bối cảnh cây Kawai BS-3A rất cũ, lên dây theo thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition, đặt trong một phòng ăn tập thể 10 × 16 × 3 m (~480 m³).

Trước hết, 1/ JOY TO THE WORLD:


Ấn tượng tổng thể:

Kawai BS-3A không cho cảm giác “âm thanh lớn vì phòng lớn”; nó cho cảm giác âm thanh có không gian để thở.

Đây là một khác biệt rất quan trọng!

Trong bản thu, ta nghe thấy một trường âm rộng hơn rõ rệt so với U1H trong căn phòng 2 × 5 × 3 m. Các hợp âm không bị ép sát vào nhau, đặc biệt ở những chỗ pianist chơi đầy đủ hòa âm.
Và, điều đáng chú ý là màu âm của piano vẫn khá tập trung, không bị căn phòng lớn làm loãng.

1. Điều thích nhất: trung âm
Đây là vùng ta đánh giá cao nhất trên Kawai BS-3A.

Giai điệu của Joy to the World có một chất: ấm – rõ – hơi tròn – nhưng vẫn có articulation.

Nó không có độ sáng trực diện như một số Yamaha upright cũ.
Đặc biệt khi melody nằm ở khu vực trung âm, ta có cảm giác nó “nói” chứ không chỉ “phát tiếng”.

Đối với một bản thánh ca, đây là phẩm chất rất tốt.


2. Bass: lần này ta có thể đánh giá tốt hơn

Phòng 480 m³ cho phép tôi nghe được bass trong một điều kiện tự nhiên hơn rất nhiều so với căn phòng 30 m³ của U1H.

Bass của Kawai BS-3A:
- không quá phô trương;
- không bị ù;
- có thân âm;
- nhưng vẫn giữ được độ gọn.

Điều thích là bass không cố gây ấn tượng bằng lượng năng lượng, mà làm nhiệm vụ nâng đỡ harmony.

Đối với Joy to the World, đây chính xác là điều

3. Treble:

Có một điểm rất đáng chú ý: ở cây BS-3A đã rất này, treble không có kiểu sáng hơi “kim” mà ta thường dễ gặp ở một số upright Yamaha cũ.
Nghe nó:
-sáng vừa phải;
- khá mềm;
- không gây cảm giác mệt;
- nhưng articulation vẫn đủ rõ.

Đặc biệt trong những nốt cao của melody, ta không nghe thấy sự “tách khỏi” trung âm một cách quá mạnh!
Điều này làm ta nghĩ rằng sự cân bằng giữa các vùng của bàn phím đang khá tốt.


4. Chord blending:
Thật đây mới là phép thử quan trọng vì Joy to the World rất phù hợp để thử thang âm, vì có rất nhiều hợp âm chức năng rõ ràng.

Qua bản thu, người nghe thấy: Các hợp âm có xu hướng hòa quyện thành một khối âm nhạc, nhưng chưa đến mức bị nhòe.

Đây là trạng thái rất khó đạt. Nhất là lại với 1 cây đàn cũ, tệ như thế này!
Nếu thang âm hoặc unison có vấn đề, trong một phòng rộng như thế này, các beating và partial không thuận sẽ có xu hướng làm hợp âm trở nên:
- căng,
- rung khó chịu
- hoặc “đục”.

Ta không nghe thấy hiện tượng đó ở mức đáng kể.

5. Điều đặc biệt quan trọng: Với căn phòng 480 m³ - Đây chính là điều làm bản thu này có giá trị đối với thử nghiệm này.

Trước đây: U1H — 30 m³
âm thanh bị chi phối nhiều bởi âm trực tiếp và phản xạ rất gần.

Còn: Kawai BS-3A — 480 m³
cho phép chúng ta quan sát một điều khác:

XXXXXXxx Universal Upright Editioncó giữ được sự cân bằng khi âm thanh được “thả” vào một không gian lớn hay không?

Qua bản thu này, câu trả lời của tôi là: Có, khá rõ.
Đặc biệt ta không thấy: bass bị phình lên chỉ vì phòng lớn, hoặc treble bị mất đi trong không gian

Đó là một kết quả đáng chú ý.

6. Một phát hiện rất thú vị khi phân tích và nghe kỹ:

Phân tích kỹ âm thanh bản thu cho thấy năng lượng tập trung chủ yếu trong vùng trung âm và upper-mid, thay vì có một lượng năng lượng bass cực lớn.

Điều này phù hợp với những gì tai ta nghe: âm thanh có trọng tâm ở musical midrange chứ không phải kiểu “bass-heavy” để tạo cảm giác hoành tráng.

Đây là một đặc điểm rất thích hợp với piano đệm thánh ca.

Nói cách khác, cây Kawai BS-3A không cần dùng bass thật nhiều để tạo cảm giác lớn.

7. Projection:

Với U1H trong phòng 2 × 5 m, ta đã phải rất thận trọng khi đánh giá projection.
Với KawaibBS-3A trong phòng 10 × 16 m, chúng ta bắt đầu có điều kiện tốt hơn để quan sát nó.

Bản thu cho thấy âm thanh có: độ lan tỏa khá tốt nhưng không bị tản mát.

8. Điều người nghe sẽ thích hơn cả Yamaha P2F ở Kawai BS-3A:
Nếu so với P2F mà chúng ta đã nghe trước đây, sẽ cảm thấy:

+ P2F → có chất trữ tình, mềm và hơi “cổ”.
+ BS-3A → có cảm giác cân bằng, trưởng thành và trung tính hơn.

Cây Kawai BS-3A không có vẻ cố tạo ra một màu âm đặc biệt. Nó giống như đang nói:

“Tôi sẽ để người pianist quyết định tính cách của bản nhạc.”

Đó là phẩm chất rất đáng giá đối với một cây đàn phục vụ được nhiều người sử dụng.

9. Và đây là điểm rất quan trọng đối với DAVIDLee score

Đến đây, những người nghe và thực sự quan tâm, đã có một chuỗi thử nghiệm khá thú vị:


Điều người nghe có quan tâm sẻ bắt đầu thấy rõ hơn là:


XXXXXXxx Universal Upright Edition không tạo ra cùng một âm thanh trên mọi cây đàn.
Và tôi cho rằng đó chính là điểm tốt.
Thay vào đó, là một số đặc tính có vẻ lặp lại:
- trung âm có tính hát;
- treble không quá căng;
- hợp âm hòa quyện;
- melody không bị chìm;
- bass làm nền thay vì thống trị;
- chuyển vùng tương đối tự nhiên.

Nếu những đặc tính này tiếp tục xuất hiện trên những cây đàn tiếp theo, chúng ta sẽ có cơ sở mạnh hơn để gọi chúng là “signature characteristics” của temperament.

Nhưng tôi muốn nhấn mạnh một điều qua nhận xét này này không có nghĩa Kawai BS-3A là cây đàn tốt hơn mọi cây chúng ta đã nghe.

Nó có nghĩa: cây đàn Kawai BS-3A đang được khai thác rất tốt trong giới hạn vật lý của một cây upright tuy đã rất cũ kỹ.
, đây chính là chỗ tôi thấy phải quay trở lại với tuner đã thực hiện việc chỉnh về cây đàn:

Rõ ràng bản thu này là một bằng chứng khá đẹp về khả năng của tuner: không chỉ làm được kết quả tốt trên Yamaha, mà còn chuyển sang Kawai và một không gian lớn hơn rất nhiều mà vẫn giữ được tính cách âm thanh nhất quán!!!! =D> =D> =D>
 
Chỉnh sửa cuối:
  • Vodka
Reactions: rfs

QUANG1970

Xe lăn
Biển số
OF-547318
Ngày cấp bằng
25/12/17
Số km
13,488
Động cơ
388,292 Mã lực
2/ HYMNS (Angles We Have Heard On High):




Như đã nói, tôi sẽ phân tích bản “HYMNS ” trên Kawai BS-3A. Đây cũng là một phép thử rất tốt vì nó cho phép chúng ta đặt hai tác phẩm thánh ca khác nhau trên cùng một cây đàn, cùng căn phòng 480 m³ và cùng một người Tuner lên dây cạnh nhau.

Cần đặc biệt chú ý đến điểm này: bản thu trong hoàn cảnh không gian điện thoại được di chuyển trong phòng thay vì đặt cố định.

Ấn tượng quan trọng nhất:

Sau khi đối chiếu HYMNS với Joy to the World trước đó, ta thấy rõ hơn một điều:

Tiếng cây Kawai BS-3A không chỉ “nghe hay” trong một bài Joy to the World; màu âm và cách các hợp âm kết hợp với nhau mà không vẫn giữ được tính cách tương đối ổn định khi chuyển sang một tác phẩm khác: HYMNS.
Điều này rất quan trọng đối với việc đánh giá cả người lên đây lẫn thang âm XXXXXXxx Universal Upright Edition. Cụ thể là:

1. Middle register: đây vẫn là “linh hồn” của Kawai BS-3A

Trong HYMS, phần melody nằm nhiều ở vùng trung âm và có những câu cần hát dài.

Ta cảm nhận được:
- âm trung khá dày;
- attack không quá cứng;
- tiếng sau attack vẫn giữ được thân âm;
- melody không bị chìm vào hợp âm.

Đây là một đặc điểm ta đã nghe ở Joy to the World, và ở tác phẩm này nó càng rõ.

Đây là điểm tôi đánh giá cao nhất với cây KAWAI BS-3A sau khi được chỉnh dây này!

2. Hợp âm: bản này còn là phép thử tốt hơn Joy to the World: Joy to the World, các hợp âm tương đối rõ chức năng và tiết tấu.

Còn HYMNS cho phép nghe rõ hơn sự hòa quyện bên trong chord.
Người nghe không có cảm giác mỗi nốt trong hợp âm “đánh nhau” để giành sự chú ý, mà ngược lại, chúng tạo thành một khối hòa âm tương đối thống nhất, trong khi melody vẫn nổi lên.

Đây chính là điều tôi muốn kiểm chứng khi mời các bác nghe thêm bản này.

3. Bass: rất thích hợp với thánh ca -.Bass không phải là nhân vật chính. Nó làm đúng nhiệm vụ: đỡ hợp âm – tạo nền – rồi lùi lại!
Đặc biệt trong một phòng rộng tới khoảng 480 m³, lại là phòng anh cần yên tĩnh thoải mái nhất là của 1 dòng tu nữ thì đây là điều rất đáng giá!
Nếu bass của cây đàn quá nhiều hoặc quá đục, căn phòng lớn sẽ làm nó trở nên nặng nề hơn. Ở đây tôi không thấy xu hướng đó nổi bật.

Hãy thử tưởng tượng nếu cũng tiếng đàn này mà bass quá dày, quá lớn và vang Đến mức “đâm vào tai xoáy vào nhĩ”, kiểu như cái tiếng đàn mà các bác và mọi người vẫn thường nghe ở Việt Nam, thì khi đánh lên ngay trong lúc các nữ tu đang hát tụng ca, âm thanh không phải là tiếng ca ngợi chúa mà là cái âm thanh ở trong 1 nơi không phải thờ phượng!
Nếu không muốn nói xa hơn và hình tượng hơn là ……… là âm thanh của 1 quán karaoke hay ……… :D :P :))=))

4. Treble: tôi thích cách nó “đứng phía sau” melody
Đây là điểm khác biệt tôi cảm nhận rõ giữa một cây đàn được chỉnh để nghe cho lớn và một cây đàn được chỉnh để phục vụ âm nhạc,

Treble của BS-3A vẫn đủ sáng để tạo độ lấp lánh cho thánh ca, nhưng không cố tranh sự chú ý với melody.

Đặc biệt trong những đoạn cao trào, âm thanh vẫn giữ được độ mềm tương đối tốt.

5. Căn phòng 10 × 16 × 3 m rõ rảng bây giờ trở thành một phần của phép thử và càng đánh giá cao phương pháp thu khi điện thoại không đứng yên, mà di chuyển: gần → xa → sang vị trí khác → trở lại gần, nên hai bản thu không chỉ cho chúng ta biết “piano nghe thế nào trước microphone”.
Nó cho chúng ta một cái nhìn gần hơn về:người nghe thực tế trong căn phòng sẽ cảm nhận cây đàn như thế nào khi thay đổi vị trí.
Dĩ nhiên đây không phải phép đo âm học chuyên nghiệp, nhưng về mặt musical listening test thì rất hữu ích.

6. Và đây là điểm tôi muốn lưu ý: Tôi từng nói:

XXXXXXxx Universal Upright Edition có thể giúp từng cây đàn phát huy tối đa những gì vốn có.”

Sau khi nghe âm thanh cây Kawai BS-3A qua Joy to the World + HYMNS, tôi nghĩ câu này cần chính xác hơn: Tuy không thể từ các bản thu chứng minh rằng chính temperament gây ra toàn bộ kết quả.
Nhưng chúng ta phải thấy là có một hiện tượng đáng quan sát: cùng một piano + cùng một người thợ + cùng một temperament + cùng một phòng, nhưng hai tác phẩm khác nhau vẫn cho thấy những đặc điểm âm thanh tương đối nhất quán.


7. Và điều này rất có ý nghĩa đối với việc đánh giá tay nghề của Tuner: Bây giờ chúng ta có một trường hợp cùng một Tuner mà: Flora, Yamaha P2F, Yamaha U1H, Kawai BS-3A Đều chưa ra cái âm thanh đáng chú ý là không phải là mọi cây đàn đều nghe giống nhau.
Chúng không giống nhau - Và đó chính là điều tôi muốn thấy: Mỗi cây vẫn có cá tính:
- P2F mềm và giàu chất trữ tình;
- U1H rõ, nhanh và sáng hơn;
- Flora đơn giản hơn;
- Kwai. BS-3A có trung âm dày và âm thanh khá “thở”.

Nhưng cách các cây đàn xử lý hòa âm và melody lại có những điểm tương đồng.

Đó mới là dấu hiệu đáng quan tâm.

8. Tôi đánh giá về tay nghề của Tuner:

Sau bản thứ hai trên cây KAWAI BS-3A, tôi đánh giá khả năng musical tuning của người tuner này khoảng 9,4–9,6/10 qua các bản thu, với một lưu ý rất rõ: đây là đánh giá kết quả âm thanh, không phải chứng nhận kỹ thuật toàn diện! [-X

Điểm tôi đánh giá cao nhất là: Tuner dường như biết giữ một triết lý tuning nhất quán mà không làm mất bản sắc của từng cây đàn.

Đó là một kỹ năng khó! Và, tôi muốn nhấn mạnh một điều rất thú vị là nếu chỉ có Joy to the World, chúng ta có thể nói: “BS-3A nghe tốt.”
Nhưng khi có thêm HYMNS , tôi thấy chúng ta có thể nói một điều sâu hơn:

“Cây Kawai BS-3A này có một nền âm thanh nhất quán đủ để phục vụ những cách viết và diễn đạt khác nhau của nhạc thánh ca.”

Và vì cả hai bản đều do cùng một tuner lên dây, trong cùng phòng, với cùng cây đàn, cùng một pianist, nên đây là một trong những cặp bản thu có giá trị trong toàn bộ chuỗi phân tích này.

Cũng lưu ý riêng: có lẽ điều đáng giá nhất của thử nghiệm hôm nay là việc chúng ta đang bắt đầu có một chuỗi phân tích có kiểm soát tự nhiên: cùng người lên dây, cùng thang âm , cùng cây đàn, cùng căn phòng, nhưng hai tác phẩm khác nhau.
 
Chỉnh sửa cuối:
Thông tin thớt
Đang tải
Top